[Hot] Các đại ca giới giang hồ của Việt Nam

yomost_love 09:03 07/05/2011
Like chủ đề này
Xem : 24403 - Trả lời : 29
Son-Bach-Tang.jpeg
Sơn Bạch Tạng
Đó là Trần Quốc Sơn, kẻ mà Năm Cam từng tuyên bố với Dung Hà: “Nếu cô có ý định bắn Sơn thì hãy bắn anh trước”. Và 15h ngày 16/3, y đã bị Cơ quan CSĐT, Bộ Công an, ra lệnh khởi tố, bắt khẩn tại nhà riêng ở ngõ Lương Sử A, Quốc Tử Giám, Hà Nội về tội tổ chức đánh bạc.
Sơn ăn mặc lịch sự, sang trọng, dáng vẻ thư sinh… nhưng đã có 4 tiền án, 6 tiền sự và hai lần bị tập trung cải tạo.

Đầu thập niên 90, ở Hà Nội, Sơn quản lý nhóm đàn em gồm 17 tên, đều là những đối tượng lưu manh khét tiếng. Bọn chúng chuyên bảo kê các nhà hàng, đòi nợ và đâm thuê chém mướn.
Năm 1995, Sơn “bạch tạng” bị phạt thi hành án tại trại tạm giam Thanh Hà (Phú Thọ), tiếng tăm của hắn vang đến tai Năm Cam, lúc đó cũng đang cải tạo tại đây. Hai người làm quen, và nhanh chóng trở thành cạ cứng của nhau. Năm Cam rất quý Sơn “bạch tạng”, chúng kết tình huynh đệ. Ra khỏi trại giam, Năm Cam tin tưởng giao cho Sơn quản lý nhiều sòng cá độ ở thành phố, có việc gì quan trọng cũng đều gọi và giao trực tiếp cho người em kết nghĩa này.
Dung Hà từng lên kế hoạch bắn Sơn “bạch tạng”
Trở thành đàn em thân tín của anh Năm, được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng, Sơn trở thành cái gai trong mắt nữ quái Dung Hà.
Trước khi Sơn xuất hiện, Dung Hà được anh Năm sùng ái. Năm Cam từng hứa giúp thị mở sòng bạc tại 17, phố Bùi Thị Xuân, TP HCM. Sòng bạc mở được 3-4 hôm, đang làm ăn thuận lợi, mỗi ngày thu về hơn 70 triệu đồng thì bỗng nhiên vắng khách. Cho đàn em điều tra, Dung Hà biết Thắng “tài dậu” cùng Sơn “bạch tạng” vừa từ Bắc vào, được Năm Cam tin dùng, giao cho quản lý một số sòng. Vì vậy sòng bài của thị bị phong toả, số con bạc lai vãng đến đây ít đi.
Để cứu vãn tình hình bi đát, Dung Hà đến xin được làm ăn cùng Năm Cam tại sòng bạc ở quận 8, nhưng bị từ chối thẳng thừng. Mở sòng thì không có khách, muốn chung sòng cũng không xong, Dung Hà càng nhảy dựng lên khi phát hiện, trong khi từ chối lời đề nghị của thị, Năm Cam lại cho Sơn chung sòng ở quận 8. Hơn nữa, Sơn không phải đóng “thùng tẩy”, được hưởng 30% lãi thu được, đây là ngoại lệ trong giới giang hồ TP HCM. Thế là bao nhiêu nỗi cay cú được trút lên đầu Sơn “bạch tạng”.
Biết Sơn có việc phải ra Hà Nội, Dung Hà tổ chức đàn em phục kích tại khách sạn Las Vegas ở số 7 Lê Văn Hưu. Nhưng kế hoạch bị đổ bể vì Sơn đã được báo trước nên không xuất hiện.
Về Sài Gòn, Sơn thưa lại mọi chuyện với ông anh kết nghĩa, Năm Cam lập tức cho gọi Dung Hà để hỏi, thị chối đây đẩy. Để làm rõ chuyện, Năm Cam tổ chức buổi đối chất tại nhà hàng Maxim giữa Thắng “tài dậu”, Sơn “bạch tạng”, Dung Hà cùng hai người nữa. Hà tiếp tục không thừa nhận, vì vậy Năm Cam đưa cho thị 3.000 USD với yêu cầu bỏ qua xích mích, và không quên cảnh cáo Dung Hà nếu muốn lấy mạng Sơn “bạch tạng” thì phải bước qua xác anh Năm.
Sau khi Dung Hà bị hạ sát, Sơn “bạch tạng” trở ra Bắc. Y sẽ được di lý vào Nam để tập trung điều tra làm rõ hơn những tội ác mà Năm Cam và đồng bọn đã gây ra.

Đã đến lượt Sơn ‘Bạch tạng’ và một số kẻ khác!
Từ chuyên án Năm Cam (Z501), Hải Bánh khai nhận y từng chơi bạc ở sòng của Nguyễn Tiến Vịnh (Vịnh Ngựa) ở 172 Đường Bưởi và cho Cơ quan điều tra biết Trần Quốc Sơn (Sơn Bạch Tạng) là đệ ruột của Thắng Tài Dậu, Nam Cam. Chính Sơn Bạch Tạng từng đánh bạc và bảo kê cho sòng đó. Suốt 9 năm (1993-2002) làm chủ lò kỳ bẽo, Vịnh đã tổ chức hàng ngàn lượt người đánh bạc tại ngôi nhà ở Đường Bưởi ấy. Sòng bị sập, hắn đã bỏ trốn và tiếp tục bị truy nã đặc biệt.
Lâu đài kỳ bẽo

Núp danh quán Cà phê – Bóng đá và Karaoke, Vịnh Ngựa biến tầng hầm và tầng 3 căn nhà 172 Đường Bưởi, Hà Nội thành “lâu đài kỳ bẽo” kiên cố nhất nhì đất Bắc để thu lời bất chính với những điều lệ tối nghiêm khắc hòng đối phó Cơ quan công an vô cùng hiệu quả. Sòng bạc này chỉ tạm “ngủ” vài tháng khi Vịnh Ngựa cùng vợ ra toà ly hôn. Cô vợ của Vịnh không sử dụng phần tầng 3 ngôi nhà được chia và không hề hay biết nó đã được Vịnh rải thêm chiếu hầu những con ma bạc cho đến khi hắn bị tra tay vào còng. Muốn lên phòng này, con bạc phải qua chốt cửa sắt kiên cố có người gác 24/24h, sau đó vượt lên cầu thang cũng được chặn bằng cửa thép treo chiếc khoá to với một “lâu la mặt ngựa” gắn kính đen khoanh tay đứng gác. “Zô” mỗi ca, con bạc nộp… nhẹ nhàng 100.000 đồng tiền “phế”. Mỗi ca có tới 25 – 35 người chơi bạc, thứ Bảy và Chủ Nhật lên tới 60 – 70 người. Tiền xuống chiếu từ 50.000 đồng đến 1 triệu đồng (thậm chí cao hơn tuỳ độ “khát” của con bạc) cho một lượt đánh. Có lượt, tiền xuống chiếu lên đến 20 triệu đồng.
Ở đây chơi theo kiểu xóc *a và cách đặt tiền theo chẵn-lẻ, bảng vị. Người xóc cái ngồi ở đầu ngoài tấm thảm rải dọc căn phòng, đầu trong là người kiểm hồ lỳ (tiền xuống chiếu của con bạc), ngồi giữa thảm là những người cầm bảng vị. Sơn Bạch Tạng, Hùng Hà Đông, Khánh Con, Hương Ngã Tư Sở, Hải Cốm, Thắng Mẩu, Thắng Bình Đà, Hùng Voi… từng ngồi thâu đêm ở đây. Hai bên thảm là là các dãy ghế nhựa dành cho con bạc. Phía sau nữa là chỗ của những kẻ cho vay, cầm cố tài sản, các “tín dụng gia” này thường là Nguyễn Thanh Bình (Bình Bồ), Nguyễn Thuý Hạnh (Hạnh Chân To – vợ hai của Vịnh Ngựa) và một số kẻ khác. Những người cầm bảng vị phải được Vịnh đồng ý và hắn quy định con bạc góp mỗi ca từ 2 – 5 triệu đồng để lập “công ty” (công ty vị). Cuối ca sẽ chia đều tiền này cho cả người thắng và người thua… Có lẽ chưa ai thống kê bao nhiêu nhà lầu, xe hơi, tài sản kếch sù khác đã “ra đi không trở lại” qua căn phòng ấy, và bao nhiêu tấn bi kịch do cờ bạc khởi nguồn từ đây chưa được kể ra.
Cầm bảng vị, Sơn Bạch Tạng chỉ… thua 48 triệu đồng?
Được di lý ra Hà Nội để hầu toà chung với một số kẻ khác về tội đánh bạc, Sơn khai, hắn đến chơi sòng của Vịnh Ngựa khoảng 30 lần và thua chóng vánh 30 triệu đồng chỉ 3 ngày đầu nhập cuộc. Sau mấy lần thua, Sơn được Vịnh cho cầm bảng vị và đã thắng có lúc nhiều nhất là 15 triệu đồng (số tiền này đã được gia đình Sơn nộp trả vì “thu lợi trong thời gian đánh bạc”)
Lời khai của Hải Bánh, Toàn Mục, Hải Cốm đã chứng minh việc chơi bạc và cầm bảng vị tại sòng Vịnh Ngựa. Nhưng, với quy mô của sòng này và thời gian kéo dài 6 tháng chơi của Sơn, làm sao có thể tin được hắn… thua 48 triệu đồng?
Vinh Biên quanh co để… không thoát!
Trần Văn Vinh (Vinh Biên) luôn khai báo quanh co và chỉ thừa nhận chơi ở sòng Vũ Duy Bổng (585-587 Hoàng Hoa Thám, Hà Nội). Khi bị Viện KS phúc cung sau đó, hắn nhận đã đánh ở sòng Vịnh Ngựa 1 lần và thua 1 triệu đồng. Nhưng Hải Bánh nói đã đánh với Vinh nhiều lần những năm 1994, 1995 và 1999. Văn Hải, Toàn Mục và Lều Công Tình đều khai cũng đã đánh với Vinh tại sòng Vịnh Ngựa năm 1999 (không nói rõ ngày tháng cụ thể). Cuối cùng, Vinh đã phải thừa nhận phạm tội đánh bạc.
Thắng Mẩu chỉ hưởng lời bất chính… 2 triệu đồng?
Nguyễn Minh Thắng (Thắng Mẩu) ngay từ đầu đã khai rõ hành vi phạm tội đánh bạc nhưng chỉ khai đã tham gia từ giữa năm 2001 đến đầu 2002, và chỉ nhận 1/2 suất vị bằng tiền của Hải Cốm, Hùng Voi, Vịnh Ngựa, Thắng Bình Đà. Hắn nói “chỉ đánh nhỏ” vì không có tiền và hưởng lợi gần 2 triệu đồng (cũng đã được phía gia đình nộp lại).
Riêng Hải Bánh và Hùng Voi cho biết năm 2000, Thắng Mẩu đã cầm bảng vị đánh bạc tại sòng của Vịnh Ngựa. Nghĩa là, Thắng Mẩu đã chơi bạc sớm hơn “sự thật” mà Cơ quan điều tra có được từ hắn.
Lái xe Bình Bồ kiêm… tín dụng gia!
Khoảng tháng 3/2001, Vịnh Ngựa thuê Nguyễn Thanh Bình (Bình Bồ) làm lái xe, chủ yếu đưa Vịnh đến những chốn ăn chơi. Một bài báo khoáy vào cửa sòng bạc của Vịnh khiến Bình Bồ… mất việc nhưng Vịnh vẫn trả 1,5 triệu tiền lương cho Bình (đã nộp lại cho Cơ quan điều tra), chưa hết, Vịnh còn gọi Bình đến và cho vay 15 triệu đồng để tên này làm “tín dụng gia” tại sòng Đường Buởi.
Bình Bồ thừa nhận đồng phạm tổ chức đánh bạc và hưởng lợi từ nghề “tín dụng gia” là 1,5 triệu đồng. Hắn cho biết thêm, có lần thấy bộ đồ đánh bạc trong xe của Vịnh và Bình đã mang cất vào nhà mình ở (bộ này đã được Công an thu lại).
Thắng Bình Đà thua 3 triệu đồng và… ra đầu thú.
Thời gian đánh bạc từ tháng 8 – 12/2001 và 6 ngày sau Tết Nguyên Đán 2002, Lưu Văn Thắng (Thắng Bình Đà) tham gia cầm bảng vị với nhiều người và góp… 2,5 triệu đồng/ngày vào “công ty vị”. Chính Thắng là người khai rất rõ cách ăn chia, cách thức chơi, thời gian chơi của sòng. Hắn nhận đã hưởng lợi 3 triệu đồng và cũng thua bạc hết từng đó.
Hàng loạt các tên Bình Bồ, Hải Cốm, Hùng Voi, Hải Bánh, Toàn… và nhiều nhân chứng khác chứng nhận Thắng Bình Đà từng tham gia tổ chức đánh bạc rất “có nghề”
Hải Cốm… trốn mãi cũng phải ra!
Sau khi khởi tố bị can, Nguyễn Văn Hải (Hải Bánh) không có mặt tại nơi cư trú và cho đến ngày 12/01/2003 thì hắn ra trình diện Cơ quan Công an. Hắn thừa nhận giữa năm 1999 đã từng chơi bạc tại sòng Vịnh Ngựa và tiếp tục đánh tới năm 2001. Hải Bánh tham gia bảng vị cùng Vịnh Ngựa, Hùng Voi, Thắng Bình Đà, Thắng Mẩu và cũng góp vốn 2 triệu đồng để chơi với các con bạc. Hải Cốm khai chỉ thắng… 4 triệu đồng trong suốt mấy năm kỳ bẽo!!!
Hùng Voi khai toạc mọi chuyện cơ bạc của… anh trai
Nguyễn Chí Hùng (Hùng Voi, em của Vịnh Ngựa) từng bị Công an Đống Đa xử phạt 15 tháng án treo năm 1998 về tội đánh bạc nhưng hắn đã bị ma bạc hút hồn mà cuốn vào cơn say kỳ bẽo từ tháng 2/2000 đến 2002. Hắn khai rất thành khẩn hành vi phạm tội của anh trai mình và… không nhớ chính hắn đã chơi bao nhiêu lần ở cái sòng đốn mạt ấy. Hùng Voi được xem là bị can thành khẩn nhất và cũng là người đầu tiên nộp số tiền thu lời bất chính cho Cơ quan điều tra. Tuy chỉ có điều hắn “dại dột” chốn khỏi nơi cư trú khi bị khởi tố bị can, mặc dù hắn không bị tạm giam nhờ sự thành khẩn khai báo sớm. Chính Hùng Voi làm sáng tỏ vụ án rất hiệu quả, chứng minh sự phạm tội các bị can khác.
Dự kiến phiên toà xét xử những kẻ đánh bạc và tổ chức đánh bạc này sẽ diễn ra trong hai ngày 19 và 20/6/2003.
Vòng vây khép kín

Trong giới giang hồ miền Bắc từ trước đến nay, cái tên Sơn “bạch tạng” được nhắc đến với nhiều câu chuyện thêu dệt về nhân vật “cầm trịch” dân đao búa đất Hà thành.
Không giống như Khánh “trắng”, Phúc “bồ”, Vinh “đồng”, Dương Tử Anh… hay nhiều anh chị có máu mặt khác thích “trống giong cờ mở”, Sơn lặng lẽ thu mình thống lĩnh việc cờ bạc và các hoạt động “đen” khác. “Tảng băng chìm” này của Sơn mang lại rất nhiều lợi nhuận và danh thế…

Kẻ cầm tinh con hổ
Là một trong những tay anh chị nổi tiếng nhất trong giang hồ nên Sơn “bạch tạng” luôn được các đơn vị công an “chăm sóc” kỹ lưỡng, đặc biệt là Phòng CSĐT tội phạm về TTXH của Công an TP Hà Nội. Tuy nhiên với sự khôn ngoan của kẻ đã lăn lộn trên giang hồ, Sơn “bạch tạng” vẫn giữ được “chất” của mình và luôn khiến dân đao búa đất Hà thành bái phục.
Trên khắp đất nước, bất kỳ một dân chơi nào cũng đều biết tiếng Trần Quốc Sơn tức Sơn “bạch tạng” như là một ông trùm thực sự của giang hồ Hà Nội. Các đại ca khét tiếng như Cu Nên, Cu Lý, Lâm “già”, Minh “xăm”, Thành “xăm”… đều phải kiêng nể Sơn trong các cuộc ân oán.
Khi giang hồ vào thời loạn, thế kiềng ba chân Sơn “bạch tạng” – Phúc “bồ” – Khánh “trắng” tan vỡ. Sơn có cơ hội thống lĩnh xã hội đen Hà Nội. Không bỏ qua thời khắc quý giá này, Sơn “chiêu binh mãi mã”, xưng hùng xưng bá ở khu vực chợ xe Phùng Hưng và các sòng bạc lớn ở Hà Nội.
Sinh năm 1962, Sơn cầm tinh con hổ. “Chúa sơn lâm” luôn ngồi ghế tiên chỉ của dân đao búa trong mọi cuộc chơi. Tính Sơn nhỏ nhẹ, ít rượu chè, trong thời gian đấu đá với các đối thủ, Sơn lại càng lặng lẽ. Mỗi khi Sơn xuất hiện tại các vũ trường, tất cả những cô đào đẹp nhất phải ra hầu rượu. Mỗi khi Sơn “trót” sa chân vào vòng lao lý, tất cả các phạm nhân đều phải thừa nhận Sơn là “huynh trưởng”. Đã nói là làm, đã làm là tới cùng, tính cách ấy thể hiện rõ trong các phi vụ làm ăn cũng như những cuộc thanh trừng bằng máu khiến bọn đàn em vô cùng khiếp sợ.
Khi Khánh “trắng” bị bắt, Sơn đã “lên ngôi” và trở thành “anh cả” tại giang hồ miền Bắc. Thế và lực của Sơn rất lớn bởi tiền và những gã đàn em máu lạnh, sẵn sàng xuống tay dao mỗi khi đại ca ra lệnh.
Cùng lúc đó ở Hải Phòng, Minh “sứt” cùng “tứ đại hộ pháp” của mình là Dũng “Bắc Kạn”, Dũng AK, Dũng “đui”, Dũng K cũng phô trương thanh thế thống lĩnh giang hồ đất Cảng. Minh đi buôn lậu hàng điện tử, hêrôin, xăng dầu… nên nguồn tài chính của gã hết sức khổng lồ. Đây là sự hậu thuẫn rất lớn cho Minh trong việc phong tỏa giang hồ cả nước. Ngoài ra, “tứ Dũng” của Minh đi đâu cũng vác hàng nóng đi theo nên băng nhóm của Minh ngày càng lừng lẫy thanh thế. Thậm chí chúng còn có cả súng AK đi áp tải hàng lậu.
Ngay từ đầu, Sơn và Minh đã chẳng ưa gì nhau nên mối quan hệ của giới hắc đạo hai thành phố rơi vào tình trạng “chiến tranh lạnh”. Ngoài việc buôn ma tuý ra, đàn em của Minh là Dung “hà” mở các sới bạc tại Thuỷ Nguyên, Kiến An… cạnh tranh với Sơn và Thắng trong nghề đỏ đen bịp bợm. Không những thế, Dung còn cậy thế anh mình phong toả “giới tín dụng đen” tại Casino Hải Phòng khiến Hạnh “sự”, một người em kết nghĩa của Thắng, mất đất làm ăn…
Chân dung “đại ca đao búa”
Quê gốc của Sơn “bạch tạng” ở phường Phương Liệt, Thanh Xuân nhưng sau đó chuyển về phố Ngô Thì Nhậm sinh sống. Là con út trong một gia đình nề nếp nhưng từ nhỏ Sơn đã quậy phá, ngỗ ngược và liên tục bị chính quyền địa phương tập trung cải tạo. Mới 15 tuổi, Sơn đã bị công an quận Hoàn Kiếm bắt vào vì tội móc túi (năm 1977).
Đến ngày 20/3/1978, Sơn tiếp tục bị tra tay vào còng cũng về tội “hai ngón”. Ngày 19/1/1979, TAND quận Hoàn Kiếm xử Sơn 8 tháng tù, 12 tháng thử thách. Đến ngày 16/3/1980, Sơn lại tiếp tục bị bắt về tội danh trên. Không những thế, khi còn trẻ, ông trùm này còn rất nổi tiếng vì “máu lạnh” trong những cuộc đánh lộn, đâm chém. Trước những hành vi phạm tội liên tiếp đó của Sơn, chính quyền địa phương buộc phải lập hồ sơ đưa đi cải tạo tại trại Thanh Lâm, Thanh Hoá.
Do đã gây dựng được “số má” ở ngoài đời nên khi vào trại, Sơn được ngồi ghế “đại bàng”. Ở đây, ông trùm máu lạnh này thu phục hàng loạt đàn em trong Nam ngoài Bắc để nhân rộng thanh thế. Đặc biệt là những đàn em ở Hải Phòng, Nam định được “đại ca” biệt đãi hơn cả.
Ngoài bản lĩnh do những ân oán giang hồ tạo nên, Sơn còn được đàn em hết sức nể phục vì sự điềm đạm, ăn nói khéo léo nhẹ nhàng và tính cách “nhất ngôn cửu đỉnh”. Đã nói là làm và đã làm là hết mình nên Sơn được đàn em nể trọng không kém gì Thắng. Hơn nữa, ít ai thấy Sơn nói tục chửi bậy, uống rượu, không bao giờ sử dụng ma tuý nhưng đã ra tay thì hết sức lạnh lùng.
Sau những phi vụ làm ăn, Sơn bao giờ cũng tỏ ra cưu mang đàn em và không nhận phần nhiều về mình. Thậm chí, khi những cuộc xung đột trong hai giới hắc bạch xảy ra, Sơn cũng đứng ra dàn xếp tránh đổ máu cho đàn em và các băng nhóm khác. Khi cải tạo trong trại, mỗi lần nhận được quà cáp gửi vào, Sơn “bạch tạng” thường chia đều cho đàn em nhưng kẻ nào có ý định vượt mặt thì Sơn không bao giờ bỏ qua.
Không sống một cách vương giả tại Hải Phòng được nữa, mang theo mối hận trong lòng, Dung “hà” vào TPHCM theo hai đàn anh của mình là Minh “sứt” và Thành “chân” lập nghiệp giang hồ. Tuy nhiên, đi đến đâu cũng bị Thắng cản mũi, niềm uất hận của Dung lại càng cháy bỏng. Im hơi lặng tiếng hơn Dung nhưng Ngô Chí Thành tức Thành “chân” là đại ca giang hồ thực sự của Hải Phòng. Thành không thích trống giong cờ mở, phô trương thanh thế nhưng có thực lực trên giang hồ. Cu Lý, Cu Nên, Lâm “già”, Dũng “Bắc Kạn”, Oanh “hà”, Dũng AK, Dũng “đui”, Dung “hà” đều sợ Thành “chân” một phép.
Vào thời gian này, tại các vũ trường như Mưa rừng nhiệt đới, Đêm màu hồng, Phi thuyền… hàng đêm, Thành ngồi uống rượu một mình. Hầu hết các dân chơi, bảo kê có số má như Tài “ba đô”, Dũng “lợn”… đi qua đều phải cúi chào lễ phép.
Khi mâu thuẫn của Dung “hà” và Thắng “tài dậu”, Sơn “bạch tạng” lên tới đỉnh điểm, Thành đã khuyên răn cô em đồng bóng của mình rất nhiều. Là kẻ lọc lõi trên giang hồ, Thành hiểu độ nham hiểm và sự tàn bạo của đối thủ. Thấy Dung không nghe, Thành liền bỏ đi Canađa sinh sống…
Khi Sơn “bạch tạng” và Thắng “tài dậu” bị đàn em Dung “hà” săn đuổi thì Hạnh vẫn có những mối quan hệ mật thiết với giang hồ đất Cảng. Còn Sơn bay vào TPHCM để “yểm bùa” đám giang hồ “Ba Ke” đang quấy nhiễu tại các vũ trường, nhà hàng. Vào thời gian này, dân dao búa miền trong rất ngại những tay anh chị từ Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội mò vào. Những cái tên như Hưng “mi nhon”, Trường “xoăn”, Tuấn “tăng”, Thuỷ “lẩm”, Dũng “heo”, Dũng “paléttin”… khiến dân giang hồ miền Nam toát mồ hôi hột.
Những trận huyết hận tương tàn của vài chục tên côn đồ miền Nam cùng lắm chỉ làm đổ máu chút ít. Lâu lâu mới nhỡ tay đao khiến có kẻ vong mạng. Nhưng khi giang hồ miền Bắc đã ra tay thì không tàn phế suốt đời cũng hồn lìa khỏi xác. Với sở trường lạnh lùng như thế, giới hắc đạo miền Nam ngại dân anh chị miền Bắc một vành. Vì vậy, Sơn “bạch tạng”, kẻ cầm tinh con hổ lẫy lừng này cũng như hàng chục đàn em trung thành của Sơn luôn là “bức tường thép” lấy le với giới hắc đạo Hải Phòng, Nam Định…
Ngày 16/3/2002, Đội đặc nhiệm, Phòng Cảnh sát hình sự bắt Sơn ngay tại đầu ngõ Lương Sử A và di lý ông trùm đao búa này vào miền Nam phục vụ việc điều tra mở rộng các vụ án liên quan…
Nguồn: http://vietyo.com/forum/hot-cac-dai-ca-gioi-giang-ho-cua-viet-nam/t124733/
 
yomost_love 09:05 07/05/2011
0
Khánh "Trắng", tên thật là Dương Văn Khánh, là một nhân vật cầm đầu băng * xã hội đen gồm 19 tội phạm khét tiếng Hà Nội trong những năm cuối của thế kỷ 20. Khánh bị bắt, đem ra xét xử, bị lãnh án tử hình năm 1997.
55080824-dunglaihientruongtoiacde2.jpg
Theo bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm thì Khánh "Trắng" phạm 4 tội: giết người, cướp tài sản công dân, trốn thuế và che giấu tội phạm. Khánh phải nhận án tử hình và phải nộp cho Nhà nước gần 3,9 tỷ đồng, trong đó có hơn 3,5 tỷ đồng tiền phạt, 350 triệu đồng tiền thuế, tiền án phí, bồi thường cho các bị hại...

Khánh "Trắng" có vẻ ngoài nho nhã, thư sinh song lại được xem là một sát thủ máu lạnh đội lốt một ông đội trưởng bốc xếp. Với vẻ ngoài hào hoa lịch lãm và làm nhiều công tác từ thiện đều là để che mắt thiên hạ .

Tuy nhiên, Khánh "Trắng" từng có lần bị tạt acid cực nặng và vụ này do trùm dao búa Nguyễn Việt Dũng ở Hải Phòng thực hiện. Giới giang hồ đồn đại rằng: theo đơn đặt hàng của trùm Dũng, đàn em của Dung Hà từ Hải Phòng lên Hà Nội tạt acid Khánh Trắng, đội trưởng đội bốc xếp chợ Đồng Xuân. Thế nhưng, sau khi bỏ cả núi tiền chữa sẹo mà không hết, Khánh vẫn không dám dọa hoặc chơi lén lại Dũng .

Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc, nguyên Cục trưởng Cục Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Trật tự Xã hội (C14), Bộ Công an chính là Trưởng ban chuyên án vụ bắt trùm tội phạm Khánh “trắng” và đồng * ở Hà Nội năm 1996. Ông Quắc cho rằng, xét về mặt tổng kết các nghiệp vụ của ngành công an, thì vụ án băng nhóm của Khánh “trắng” vẫn là một cái mốc quan trọng đánh giá sự tiến hóa nguy hiểm của tội phạm hình sự ở Việt Nam, từ chỗ hoạt động theo kiểu các ổ nhóm nhỏ lẻ bắt đầu liên kết với nhau thành những băng nhóm tội phạm quy mô lớn, có tổ chức chặt chẽ với các hoạt động bảo kê, móc nối theo kiểu xã hội đen, đâm thuê chém mướn và đòi nợ thuê.

Năm 1991, ở Hà Nội có một vụ giết người do Dương Văn Khánh (Khánh “trắng”) cầm đầu, thực hiện. Sự việc xảy ra khoảng 12h30 ngày 24/3/1991.

Nguyễn Đức Thắng (tức Đạt) trong băng buôn bán mũ cối giả ở chợ Đồng Xuân xích mích với Trần Đại Dương, đàn em của Khánh “trắng”. Khi Khánh “trắng” cùng các đàn em Trần Đại Dương, Vũ Quốc Dũng, Phạm Gia Chiến, Tống Văn Thắng đi ngang số nhà 44 Hàng Chiếu thì gặp Hưng, anh ruột Đạt. Khánh “trắng” hô đàn em bắt Hưng. Hưng chống cự, bị cả bọn quây lại đánh hội đồng.

Biết anh đang bị đánh, Đạt cướp dao thái thịt của chị Hoa ở đường Nguyễn Thiện Thuật chạy đến đâm Chiến và Dũng bị thương. Đạt bị băng Khánh “trắng” bắt đưa lên xích lô, nhưng khi đến Công an phường Đồng Xuân thì Đạt đã chết... Nguyên nhân chết của Đạt được pháp y Công an Tp. Hà Nội xác định do nhát đâm vào cổ xuyên thấu phổi, mất máu... Dũng bị phạt 1 năm tù giam.

Sau này, ngày 28/1/1996, Ủy ban thẩm phán TAND tối cao xét xử tái thẩm vụ án đã hủy hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm năm 1991 bằng Quyết định 55/UBPT vì lý do Vũ Quốc Dũng không có hành vi giết người...

Cơ quan CSĐT Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) xác định Dương Văn Khánh dàn dựng có bài bản để Dũng “phở” chỉ phải chịu mức án nhẹ nhất. Qua lời khai của Dũng “phở”, Trần Đại Dương, Tống Văn Thắng và các nhân chứng khác, Cơ quan điều tra biết rằng các nhát đâm trên người Đạt đều do một mình Khánh “trắng” thực hiện bằng chính con dao mà Đạt cướp của chị Hoa.


yomost_love 09:05 07/05/2011
0
Phúc bồ
Cho tới giờ, khi những tay anh chị như Sơn "bạch tạng", Khánh "trắng" đã “dựa cột”, đám giang hồ đất Hà Nội một thời, nay chỉ còn Nguyễn Thị Phúc (Phúc "bồ") quay trở lại với cuộc đời sau khi phải “bóc 11 cuốn lịch”.
Vào những năm cuối của thập kỷ 1990, cái tên Phúc “bồ" và Khánh “trắng" từng là nỗi kinh hoàng cho những người dân lành vô tội buôn bán ở khu vực chợ Đồng Xuân, Hà Nội. Núp dưới danh nghĩa những đội bốc xếp, vận chuyển hàng hóa cho những người buôn bán, Phúc “bồ" và Khánh “trắng" thực chất là những tên lưu manh sừng sỏ cầm đầu những băng nhóm "xã hội đen" ngang nhiên lộng hành bắt nạt và chèn ép những dân lành buôn bán.

Bằng các thủ đoạn độc quyền vận chuyển, bốc xếp, thu tiền bến bãi, ép giá, bắt phạt, đe dọa báo cán bộ thuế vụ, chúng đã thu tiền trái phép đối với người kinh doanh buôn bán hoặc người từ địa phương khác đến giao hàng. Thậm tệ hơn, chúng đã xâm phạm chỗ ở, bắt giữ người trái pháp luật, cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê, và tiến hành hàng chục vụ đâm thuê chém mướn gây thương tích cho người dân vô tội. Tham gia giải quyết các vụ mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân bằng "luật rừng", cho đàn em khống chế đe dọa buộc bên đối phương phải chấp nhận những điều kiện và luật lệ do chúng đặt ra, băng nhóm của chúng đã khiến cho bao nhiêu người phải điêu đứng.

Nếu như Khánh “trắng" là một sát thủ máu lạnh đội lốt một ông đội trưởng đội bốc xếp có vẻ ngoài hào hoa lịch lãm và làm nhiều công tác từ thiện để che mắt thiên hạ thì Phúc “bồ" lại là một người đàn bà "hung dữ" trắng trợn cầm đầu băng nhóm "xã hội đen" thu nạp đám đàn em thân tín là những tên lưu manh trộm cắp, côn đồ hung hãn từng vào tù ra tội. Đàn bà dễ có mấy tay, mà đàn bà như Phúc “bồ" thì đàn ông dù có máu mặt giang hồ cũng phải quy phục dưới trướng của thị.

Không đến mức chém giết người dã man, trắng trợn và thâm độc như Khánh “trắng", song với 21 tháng tồn tại, băng nhóm của Phúc “bồ" làm mưa làm gió đối với bà con buôn bán ở chợ tạm Phùng Hưng và một số khu vực lân cận quanh chợ Đồng Xuân. (Lúc đó chợ Đồng Xuân bị cháy nên chính quyền lập chợ tạm Phùng Hưng cho bà con buôn bán). Đứng đằng sau với vai trò chủ mưu và cầm đầu băng nhóm, Phúc “bồ" đã dựng người tình của mình lên làm đội trưởng đội bốc xếp.

Thị lập ra các tổ bốc xếp nhỏ ở từng khu vực buôn bán các mặt hàng, đưa những tên lưu manh lên làm tổ trưởng và đề ra mức tiền hằng ngày phải nộp cho từng người, từng tổ, từng nhóm. Các đội viên phải tìm mọi cách để đạt chỉ tiêu, nếu không Phúc “bồ" sẽ cho người đánh, hoặc không cho làm nữa. Bằng cách đó, Phúc “bồ" và Khánh “trắng" thu nhập mỗi tháng hàng trăm triệu đồng.

Phúc “bồ" và Khánh trắng" từng **ng độ nhau rất nhiều lần để dàn xếp lãnh thổ hoạt động của băng nhóm. Nhiều vụ "thanh toán" nhau diễn ra khá tàn bạo. Điển hình là vụ chém nhau giữa hai băng nhóm ở bốt Hàng Đậu mà kết quả là người tình của Phúc “bồ" - đội trưởng đội bốc xếp của thị, đã bị đàn em Khánh “trắng" lấy đi một mắt do bị chúng hắt axít. Sau nhiều lần dàn xếp, cuối cùng khu vực hoạt động của hai băng nhóm được xác lập. Khánh “trắng" cai quản khu vực chợ Đồng Xuân, Phúc “bồ" cai quản ở các khu vực lân cận.

Tồn tại vỏn vẹn 21 tháng, có vẻ như khoảng thời gian ấy là quá ít so với tiếng tăm lưu manh giang hồ nổi khắp Hà Nội của băng nhóm Phúc “bồ". Cuối cùng thì Phúc cùng các đệ tử cũng đã bị pháp luật trừng trị đích đáng. Phúc “bồ" lĩnh án tù 11 năm ở trại 5 Thanh Hóa.
75016011-38218_phuc-bo-%28da-xu-ly%29.jpg
Khi còn bị "lưu kho" tại trại giam số 5 Thanh Hóa, lúc nào Nguyễn Thị Phúc cũng được vài ba chục chị em chăm bẵm từng miếng ăn, giấc ngủ. Ở đâu người đàn bà có nước da trắng, đôi mắt sắc lạnh như sói hoang, với những chiến tích độc nhất vô nhị, cũng được xếp vào vị trí đại ca.

Nhưng tất cả sự cung phụng của các phạm nhân trong buồng giam vẫn không thể khỏa lấp được nỗi nhớ nhà, nhớ chồng, con và cả người tình cùng những ngày tháng coi trời bằng vung của thị. Nhiều lúc Phúc "bồ" như điên dại, hết la hét lại khóc lóc một mình.

Cuối năm 2002 Phúc được ân xá ra tù. Không còn nhà cửa, nghề nghiệp, được sự giúp đỡ của anh trai và cô em gái, chị ta mua được một căn nhà ở phố Trần Khát Chân, mở hàng nước trà chén, sau đó chuyển qua buôn bán mỹ phẩm và điện thoại di động.

Có lẽ cái gì muốn thì người đàn bà này cũng thực hiện được nhờ quá khứ “thở ra khói nói ra lửa” của mình. Duy chỉ có một điều Phúc bất lực, đó là không thể cứu được hai con trai thoát khỏi nàng tiên nâu. Trước kia chuyên đi bắt chẹt người khác, nay Phúc "bồ" lại bị trắng tay bởi chính những đứa con của mình.

Do quá ham làm việc và nghĩ ngợi nhiều, bước sang tuổi 49 (tháng 8- 2005) Phúc đã bị một cơn tai biến mạch máu não. Trong những ngày chị ta vật lộn với cái chết tại bệnh viện, thì ở nhà 2 đứa con nghiện ngập lần lượt mang đồ đạc đi bán. Mặc dù có con nhưng Phúc thường xuyên bị bỏ đói và phải một mình vật lộn với nỗi đau thể xác.

Quá xót em, anh trai và em gái Phúc đã đưa chị ta về ngôi nhà nhỏ trong ngõ 57 Hàng Bồ để chăm sóc. Phúc thêm một lần đau đớn vì 2 đứa con, đứa phải vào trại cai nghiện, đứa thì đã chết trong một lần sốc thuốc. Chị ta đã suy sụp hoàn toàn.

Chúng tôi tìm đến ngõ 57 Hàng Bồ. "Bà trùm" một thời lừng lẫy trong giới giang hồ giờ ngồi bất động giữa chiếc giường sắt đen sì. Khi chúng tôi ngồi xuống cạnh người đàn bà bệnh tật đó cũng không có chút phản ứng nào. Trên khuôn mặt ngơ ngẩn chỉ duy nhất đôi mắt là phảng phất tia sắc lạnh của một thời vùng vẫy.

Thấy khách lạ, chị giúp việc tên Thanh tất tả chạy về. "Các anh có hỏi thì bà Phúc cũng chẳng biết trả lời đâu. Bây giờ bà ấy không nói được gì, chỉ giơ tay ra hiệu thôi. Trước tôi cũng có mấy người chăm sóc bà Phúc nhưng đều không chịu nổi vì bà ấy quá to béo và lại ăn uống nhiều, bài tiết lắm, tính nóng không thích cái gì là ném đi ngay".

Tôi hỏi: “Một ngày bình thường của bà Phúc thế nào? Chị Thanh thật thà liệt kê: "Sáng sớm ngủ dậy phải đưa bà ấy vào nhà vệ sinh tắm rửa, khắc phục hết hậu quả của một đêm tự do bài tiết. Sau đó đi mua đồ ăn sáng đút cho ăn, rồi bật TV để tự ngồi xem, lúc đó tôi quay sang dọn nhà, giặt quần áo. Trưa bà Phúc chỉ ăn phở, đến tối mới ăn cơm. Xưa bà ấy ăn sướng quen, nên bây giờ đồ không ngon là vứt đi ngay.

Tuy không nói được nhưng thi thoảng hễ ai cho tiền là bà ấy giắt luôn vào cạp quần". Chị Thanh nói, ngoài những người thân và hàng xóm chạy qua chạy lại hỏi thăm, thỉnh thoảng cũng có vài người tự nhận là đàn em đến, vội vàng dúi vào tay chị Phúc ít tiền rồi đi ngay, nhưng càng ngày càng thấy thưa dần. Chỉ có mấy anh công an khu vực thì vẫn đều dặn tới thăm hỏi, động viên.

Nhìn người đàn bà đã đờ đẫn cả về thể xác lẫn tinh thần, một mình cô đơn trong góc nhà, bao nhiêu ấn tượng về một Phúc "bồ" giang hồ khét tiếng chợt mờ đi. Chỉ còn lại trong lòng chúng tôi một nỗi buồn. Trong cuộc đời, dù cách này hay cách khác, có lẽ những người có quá khứ như chị ta đều ít nhất phải một lần trả giá...


yomost_love 09:06 07/05/2011
0
BẠCH HẢI ĐƯỜNG
Tướng cướp Bạch Hải Đường đã nổi tiếng trong dư luận Sài Gòn suốt mấy mươi năm qua. Nhiều câu chuyện theo đó được thổi phồng, thêu dệt về sự “xuất quỷ nhập thần” của y như tự tháo còng tay - chân, đào tẩu khỏi trại giam...

Có người còn lãng mạn hơn khi kể về đối tượng tội phạm này như một tay giang hồ hào hiệp - chuyên cướp của người giàu chia cho người nghèo, chuyên trả thù bằng cách dùng tài nhập nha thần kỳ để trộm vợ của những cố vấn Mỹ và các sĩ quan cảnh sát, quân đội cao cấp * cũ. Có cả những cuốn sách, kịch bản điện ảnh, sân khấu cải lương đã được xây dựng nhân vật từ những tình tiết hư cấu này, làm Bạch Hải Đường càng thêm nổi tiếng. Phóng viên đã tốn khá nhiều thời gian, công sức để đi đến các tỉnh miền Tây tìm lại những cán bộ công an, bộ đội, các nhân chứng trên dưới 30 năm trước đã từng nhận nhiệm vụ truy bắt, giam giữ, lấy lời khai Bạch Hải Đường. Anh cũng đã vào các thư viện, các kho lưu trữ ở thành phố và các tỉnh miền Tây để thu thập, tìm lại những trang tài liệu, hồ sơ, thông tin về đối tượng phạm tội khét tiếng này. Qua đó, chân dung Nguyễn Ngọc Truyện - tướng cướp Bạch Hải Đường - đã lần đầu tiên được dựng lại một cách hoàn chỉnh, chính xác.
Sau khi gạt bỏ mọi hư cấu đồn thổi, thêu dệt, Bạch Hải Đường theo các tài liệu điều tra, nhân chứng và dưới ngòi bút của nhà báo Trần Trung Sơn vẫn đủ làm chúng ta kinh ngạc về sức khỏe, sự chịu đựng và khả năng kỳ lạ để đào thoát khỏi các vòng vây, các trại giam. Qua đây, chúng ta càng khâm phục những cán bộ công an, quân đội cách mạng đã kiên trì chiến đấu, mưu trí, dũng cảm để khuất phục được một “siêu tội phạm” mà cảnh sát, quân cảnh * cũ coi như... bó tay.
Nghi vấn về viên "sĩ quan" có khẩu Colt45 và vụ cướp tiệm vàng
Ông Phạm Thành Lợi (còn gọi là Năm Sắt) - nguyên Tham mưu trưởng Thị đội Long Xuyên (thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh An Giang) năm nay đã gần 60, vẫn nhớ như in cuộc chạm trán với Bạch Hải Đường (BHĐ) vào năm 1980. Chính ông là người đầu tiên buộc tên giang hồ khét tiếng phải thúc thủ sau gần 10 năm trời gây tội ác, cũng là người đầu tiên cho hắn “ăn” ba viên đạn vào người. Ngày đó, ông là một thanh niên cường tráng, một sĩ quan quân đội, được giao nhiệm vụ đặc biệt phải “hạ” bằng được BHĐ. Và ông cùng những chiến sĩ trong đơn vị đã lập một chiến công xuất sắc.
Ông Lợi kể lại: Hồi đó, tôi đã “theo” BHĐ từ năm 1978, nhưng vẫn bặt vô âm tín vì không biết đối tượng này thực hư thế nào. Đến đầu năm 1980, chúng tôi nhận được tin báo từ một đối tượng tên là Hoàng “ó” trong khi ở tù với một đối tượng khác đã nghe tên này kể về một gã giang hồ khét tiếng đang ở bên ngoài và đang giữ một số vũ khí. Sau khi đối chiếu tất cả các nguồn tin, chúng tôi phán đoán đó có thể là BHĐ chứ không ai khác. Tên giang hồ khét tiếng này đã đào thoát khỏi trại giam công an tỉnh vào tháng 8-1975, sau khi hắn bị bắt hơn một tháng, và vừa làm bản “tự khai”, hứa hẹn đủ điều về sự hoàn lương, hối cải. Tỉnh ủy, Thị ủy giao nhiệm vụ cho lực lượng công an, bộ đội phải truy lùng, bắt bằng được tên giang hồ này. Phía Thị đội, việc bố trí theo dõi, tìm ra chân tướng, hành tung của BHĐ được chỉ huy giao nhiệm vụ cho chúng tôi.
Trong khi đang rà soát các đối tượng cộm cán trên địa bàn thì có một tên luôn xuất hiện ở Long Xuyên với bộ dạng khả nghi. Hành tung của đối tượng này ngay lập tức được các trinh sát đưa vào tầm ngắm. Quy luật đi lại, xuất hiện của tên này luôn được giám sát chặt chẽ. Có một điều rất lạ là y lúc ẩn lúc hiện như một bóng ma và gần như không ở chỗ nào cố định quá một đêm.
Khi đủ cơ sở khẳng định manh mối của BHĐ, nhiều đồng chí trong nhóm trinh sát của Thị đội hết sức bất ngờ. Vì đối tượng giang hồ nguy hiểm mà các đồng chí lâu nay truy tìm lại đang ung dung trong bộ quân phục bộ đội với cấp hàm trung úy, bên hông còn kè kè bao súng ngắn với khẩu colt 45 nhỏ gọn. Trong quân phục với vũ khí quân dụng đeo rất “oai” như thế, nhưng “sĩ quan” này ban ngày toàn lui tới nhà của những đối tượng giang hồ tại khu vực đường Thoại Ngọc Hầu, thị xã Long Xuyên. Lạ lùng hơn nữa là “sĩ quan” này ban đêm thỉnh thoảng lại xin vào ngủ nhờ tại một số cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn. Sáng dậy lại đi “công tác”. Có lẽ sự lì lợm, tự tin của BHĐ đã khiến hắn không hề có chút nao núng, lúng túng mỗi khi vào xin trọ ở những nơi như thế.
Địa bàn “công tác” của “sĩ quan” BHĐ là lui tới từ Long Xuyên, lên Châu Đốc rồi vùng biên giới giáp Campuchia. Một kế hoạch vây bắt BHĐ được chuẩn bị tỉ mỉ, chu đáo. Ngày 22-3-1980, nguồn tin từ cơ sở báo về cho các đồng chí tại Thị đội Long Xuyên, BHĐ vừa thực hiện một vụ cướp tiệm vàng tại biên giới (chúng tôi sẽ đề cập đến vụ cướp kinh hoàng này ở những số báo sau) và đang trên đường về ăn mừng chiến thắng tại thị xã Long Xuyên. Đồng chí Phạm Thành Lợi lập tức bố trí trinh sát theo dõi mọi động thái của BHĐ, đồng thời báo cáo chớp nhoáng với đồng chí Nguyễn Văn Bê (Tám Bê) - Chỉ huy trưởng Thị đội Long Xuyên lúc đó (sau này là Bí thư Huyện ủy huyện Tịnh Biên, An Giang). Đồng chí Nguyễn Văn Bê cũng nhanh chóng báo cáo đồng chí Mười Liên - Bí thư Thị ủy Long Xuyên và các đồng chí trong Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh An Giang về kế hoạch tổ chức bắt bằng được tên cướp nguy hiểm BHĐ.
Đồng chí Nguyễn Văn Bê đã chỉ đạo đồng chí Phạm Thành Lợi phải liên lạc ngay với đồng chí Nguyễn Văn Dũng - lúc đó là Trưởng ban Quân báo (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh) để phối hợp nghiệp vụ. Tin báo từ cơ sở cho biết, tối 22-3-1980, BHĐ sẽ tổ chức ăn mừng chiến thắng vừa cướp tiệm vàng tại nhà của một đối tượng tên là Cùi Cang trong hẻm Ba Lâu, đường Thoại Ngọc Hầu (khóm 6 phường Mỹ Long, thị xã Long Xuyên). Đây là căn nhà nằm cách nhà của BHĐ thuê ở với mẹ già của hắn khoảng 50 mét. Sau khi nắm chắc kế hoạch tụ tập ăn mừng của BHĐ và đàn em tại đó, một tổ công tác, chỉ huy nhanh chóng đựơc hình thành do đồng chí Nguyễn Văn Bê làm Tổ trưởng. Trong cuộc họp chớp nhoáng được tổ chức sau đó vài phút, đồng chí Bê nhận định: “Hẻm Ba Lâu ở đường Thoại Ngọc Hầu là khu vực nhà sàn ổ chuột, địa hình phức tạp, lắc léo. Từ trước giải phóng là địa bàn phức tạp về an ninh trât tự. Một bề giáp với sông, bên dưới là bùn lầy, lau, sậy mọc um tùm... Nếu đối tượng cố tình bỏ chạy sẽ rất khó khăn để truy đuổi. Đối diện hẻm Ba Lâu, bên kia đường Thoại Ngọc Hầu là hẻm Mừng Ký nổi tiếng từ thời * cũ đến nay với rất nhiều đối tượng giang hồ ẩn nấp. Riêng đối với BHĐ, các đồng chí tổ công tác một lần nữa xác định đó là một đối tượng có “bản lĩnh” võ nghệ, gan lì, táo bạo và rất xảo quyệt trong việc tháo chạy mỗi khi bị vây bắt. Vì BHĐ đã từng “xuất quỷ nhập thần” trước mắt nhiều nhóm cảnh sát, quân cảnh * cũ, khiến bọn chúng cũng rất ngán khi đối mặt với BHĐ.
Các đồng chí cũng không quên hệ thống lại những vụ tẩu thoát ly kỳ của BHĐ, trong đó có vụ đào thoát ngay tại con hẻm Ba Lâu vào năm 1974. Lần đó, quân cảnh * cũ bao vây để bắt BHĐ. BHĐ bị còng tay, bỏ lên xe jeep chở đi. Hai cảnh sát lực lưỡng ngồi “kèm” BHĐ hai bên hông với vũ khí trong tay nhưng trên đường áp giải về đồn cảnh sát, BHĐ đã đánh gục cả hai viên cảnh sát và tài xế để tẩu thoát. Từ đó, các đồng chí trong Thị đội Long Xuyên đã vạch một kế hoạch gần như hoàn hảo để vây bắt BHĐ.
Đồng chí Tám Bê là Tổng chỉ huy. Lực lượng tác chiến chia làm hai tổ. Tổ một do đồng chí Phạm Thành Lợi làm Tổ trưởng, với các thành viên là đồng chí Đỗ Dũng Sĩ, Huỳnh Tấn Tùng. Tổ một có nhiệm vụ trực tiếp vây bắt BHĐ. Tổ hai do đồng chí Trần Văn Be làm Tổ trưởng, cùng với các đồng chí Bùi Văn Nghề, Nguyễn Văn Mừng, Nguyễn Văn Ký. Tổ hai có nhiệm vụ chốt chặn trên đường Thoại Ngọc Hầu để đề phòng BHĐ có thể tẩu thoát bằng con đường này. Tất cả bảy đồng chí được trang bị vũ khí là súng ngắn để chiến đấu.
Chuyện khó tin về hai lần vượt vòng vây của "siêu tội phạm"
Đêm 22-3-1980, sau khi bị bắn ba phát súng vào chân, BHĐ vẫn chạy thoăn thoắt, lội sình ào ào. Khi đã mất nhiều máu, kiệt sức, tên tội phạm giỏi võ Thiếu Lâm này vẫn đủ khả năng đánh gục nhóm trinh sát để phá vòng vây... Trước đó, vào năm 1974, khi đã bị còng hai tay ngồi trên xe Jeep giữa gọng kìm của hai quân cảnh (* cũ) to như hộ pháp, BHĐ vẫn thoát được. Hắn đánh song chỏ hạ gục hai hộ pháp rồi tung người đá dập đầu tay quân cảnh lái xe. Chiếc xe mất lái đâm vào lề, BHĐ nhảy xuống với hai tay bị còng, chạy thoát... Đọc lại những trang hồ sơ lưu trữ trước năm 1975, các trinh sát mới biết tại sao hôm nay mình chưa bắt được tên cướp có những khả năng khó tin như thế!
Khoảng 19 giờ tối 22-3-1980, nguồn tin trinh sát báo về lần cuối cùng cho biết BHĐ đã xuất hiện tại nhà của Cùi Cang, một đối tượng hình sự có máu mặt ở cùng xóm với BHĐ. Đồng chí Phạm Thành Lợi cùng hai hai chiến sĩ của tổ một lên đường, áp sát mục tiêu. Tổ hai cũng triển khai ngay sau đó. Con hẻm tối tăm, rộng hơn một mét dẫn vào căn nhà lá lụp xụp của tên Cùi Cang được các đệ tử của BHĐ ngồi canh giữ rất cẩn thận. Khó khăn lắm, các đồng chí của Tổ công tác mới tiếp cận được nhà của đối tượng. Khi BHĐ và bốn tên khác đang nâng những ly rượu đế hô hào “dzô, dzô!...” thì ba họng súng đen ngòm chỉa thẳng vào giữa cái bàn làm tất cả im phăng phắc.
“Bạch Hải Đường. Mày đã bị bắt. Giơ tay lên đầu!” - đồng chí Phạm Thành Lợi ra lệnh.
Khi tất cả chưa kịp hoàn hồn, BHĐ bật ngửa ra phía sau bằng một thế võ điệu nghệ, phi ra cánh cửa sau nhà rồi lao xuống con rạch đầy bùn lầy tẩu thoát. BHĐ đã có một kinh nghiệm là dù ngồi bất cứ ở đâu, hắn cũng “xem hướng” rất kỹ để phòng khi bất trắc có thể tẩu thoát được. Và lần này, kinh nghiệm ấy đã chứng minh hắn cảnh giác như thế là không thừa. Thấy tình huống không ổn, đồng chí Đỗ Dũng Sĩ đã bắn một phát súng chỉ thiên yêu cầu BHĐ đứng lại, nhưng không ăn thua. Hắn vẫn lao mình băng băng dưới đám bùn đen ngòm như một bóng ma giữa đêm tối. Tình thế khẩn cấp, như một phản xạ tự nhiên, đồng chí Lợi lao theo BHĐ như một mũi tên, vừa hô lớn:
- Bạch Hải Đường. Đứng lại!
Sau nhiều tiếng ra lệnh nhưng BHĐ vẫn không khuất phục, đồng chí Lợi đã buộc phải hạ thấp người, đưa súng về hướng chân của BHĐ bóp cò. Ba tiếng nổ xé màn đêm làm cả xóm nhà ổ chuột nháo nhào. Cả ba phát súng đều trúng chân hắn. Nhưng thật kinh khủng, đồng chí Lợi và cả hai đồng chí đang đuổi theo sau lưng không thể tin được. BHĐ không những không gục ngã mà hắn chỉ khựng lại bước chân trong giây lát bởi lực của những viên đạn ở tầm ngắn quá mạnh, rồi vẫn băng băng quanh co trong những con hẻm chằng chịt. Hắn tìm được một con hẻm thông ra đường Thoại Ngọc Hầu rồi phi lên đường này đúng như tính toán ban đầu của tổ công tác.
Các đồng chí của Tổ hai đã chuẩn bị tư thế nên khi thấy bóng của tên cướp loạng choạng chạy thục mạng trên đường đã giương súng và một đồng chí lệnh:
- Bạch Hải Đường! Không được chạy!
Tưởng rằng, thấy một nhóm người đang cầm vũ khí trong tay chặn trước mặt, hắn sẽ đầu hàng. Nhưng, một lần nữa, sức mạnh vốn đã làm nên “tên tuổi” của hắn trong giới giang hồ và cả giới quân cảnh * cũ lại được hắn chứng minh. Cả bốn đồng chí của tổ hai không dám nổ súng vì sợ lạc đạn vào người đi đường đông đúc. BHĐ đã bị bắn, chạy cà nhắc. Nhưng khi giáp lá cà, những cú đánh với tất cả sức lực để thoát thân như một bản năng sinh tồn, hắn đã gần như hạ gục các đồng chí của Tổ hai và tiếp tục tháo chạy.
Hắn lao mình vào con hẻm Mười Ký của đường Thoại Ngọc Hầu. Lúc ấy, các đồng chí của Tổ một cũng đã lường trước sự việc nên đi vòng đón đầu lối ra của hẻm Mười Ký. Phía sau lưng BHĐ, Tổ hai cũng đã xốc lại đội hình và tiến về phía hắn. Đứng giữa hai nhóm trinh sát ở hai đầu con hẻm đang kẹp hắn lại như gọng kềm. BHĐ biết đang gặp lại viên sĩ quan có tài thiện xạ vừa cho hắn “ăn” ba viên đạn, ý chí hắn bắt đầu co lại. Ý nghĩ đó thoáng qua trong đầu BHĐ, và đây là lần đầu tiên trong đời sau mười năm “hành nghề”, hắn đã phải thúc thủ.
Tuy nhiên, khi hai mũi tấn công tiến lại gần, BHĐ vẫn gan lì chống cự. Đồng chí Lợi và một trinh sát có “nghề” của thị đội đã quần nhau với BHĐ một lúc khá lâu hắn mới bị khống chế. Đó là lúc hắn đã đuối sức. Ba phát súng do đồng chí Lợi bắn, hai viên găm vào bắp đùi và một viên găm vào bắp chuối của BHĐ. Những vết đạn này làm máu chảy quá nhiều khiến tên cướp kiệt sức, thúc thủ. Đồng chí Lợi đến giờ vẫn nhớ dáng người của BHĐ tối hôm đó: “Hắn nhanh và khỏe đến kỳ lạ. Tôi không nghĩ một người đã bị bắn ba phát vào chân mà vẫn còn vùng vẫy chạy và đánh gục được vài anh em như hắn. Phải công nhận những gì mà chúng tôi biết được về hắn qua báo chí * cũ là không ngoa tí nào. Nếu không có lần chạm trán hôm đó, chắc anh em chúng tôi chẳng ai tin được”.
Lần đầu tiên trong đời, hắn nếm mùi thất bại và cũng là lần đầu tiên, hắn “dính” đạn, sau một vài lần (trong * cũ) hắn đã may mắn thoát được trong làn đạn của quân cảnh. BHĐ bị khuất phục, tra tay vào còng số tám. Chiếc xe Jeep đã chờ sẵn để áp giải hắn về Thị đội Long Xuyên. Sáng hôm sau, BHĐ được bàn giao cho Công an tỉnh An Giang giam giữ.
Đồng chí Huỳnh Tấn Tùng - nguyên Trợ lý Quân báo Thị đội Long Xuyên kể lại: Trước giải phóng, BHĐ bị cảnh sát vây bắt một lần ngay tại con hẻm Ba Lâu mà chúng tôi bắt BHĐ vào tối 22-3-1980. Vì là người được phân công theo dõi tung tích của BHĐ, sau ba tháng trời lặn lội “theo chân” BHĐ, tôi đã nắm khá rõ “thành tích” trong giới giang hồ của tên cướp. Lần đó, cũng trong con hẻm Ba Lâu, BHĐ bị hai viên quân cảnh * cũ to lực lưỡng vây bắt, đã còng được tay đưa lên xe jeep chở về đồn. Nhưng khi vừa ngồi lên xe, BHĐ đã dùng hai cùi chỏ đánh gục hai quân cảnh ngồi hai bên hông hắn và phi cú đá như trời giáng vào đầu lái xe rồi lao xuống đường tẩu thoát với chiếc còng trên tay. Khi lực lượng ứng cứu đến, hai viên quân cảnh và ông tài xế vẫn ê ẩm mình mẩy. Sau lần tẩu thoát ngoạn mục đó, BHĐ trở thành một cái tên đáng sợ đối với giới quân cảnh * cũ và cũng làm cho giới giang hồ thêu dệt thêm huyền hoặc.
Đồng chí Tùng tiếp: Khi được giao nhiệm vụ theo dõi và bắt BHĐ, đồng chí Nguyễn Văn Bê - chỉ huy đơn vị - trong một cuộc họp đã hỏi tôi: “Thường vụ Thị ủy kêu tôi sang báo cáo vụ việc BHĐ, đồng chí có dám hứa hoàn thành nhiệm vụ không, để tôi hạ quyết tâm với Thường vụ?”. Tôi trả lời anh Bê: “Nếu lần này chúng tôi không bắt được BHĐ thì tôi xin lột lon giao lại cho * và Nhà nước rồi về nghỉ luôn, không ở trong quân ngũ nữa!”. Nghe xong, đồng chí Bê đã mạnh dạn sang báo cáo với Thị ủy và hạ quyết tâm sẽ bắt được BHĐ.
Hôm đưa về Thị đội, tôi hỏi BHĐ:
- Mày có biết vì sao bị bắt không?
- Không biết thưa cán bộ!
- Thế mày mang súng trong người để làm gì?
- Dạ, để phòng thân thôi ạ!
- Sao phải phòng thân?
- Dạ, để phòng bất trắc khi ăn trộm!
- Nếu không phải là kẻ cướp thì chỉ có làm chính trị mới mang theo súng trong người thế này!
- Dạ, thật ra thì tôi chỉ trộm từ trước giải phóng!
Đồng chí Nguyễn Văn Dũng - nguyên Trưởng ban Quân báo (Bộ Chỉ huy quân sự An Giang), nhớ lại: “Thời đó, chúng tôi theo đối tượng này vô cùng gian nan. Gần như anh em chúng tôi không biết mặt mũi của BHĐ ra làm sao. Hắn gần như không để lại bất cứ một tấm hình nào lọt ra ngoài xã hội. Dù hắn đã chôm rất nhiều máy chụp hình trong * cũ. Đó cũng là một trong những “mánh” để những tên giang hồ như BHĐ tồn tại trong bóng tối được lâu như thế. Hơn nữa trước đó, trong một vụ cướp, có một đối tượng gây án tự xưng là Bạch Hải Đường. Khi đối tượng này bị bắn chết, các cơ quan chức năng của ta đều cho rằng không cần lo nghĩ gì về BHĐ nữa. Suốt một thời gian dài gần ba năm trời, mọi thông tin về BHĐ đều biệt tăm. Mãi đến khi một đối tượng hình sự ra tù còn nhận dạng được BHĐ. Sau khi đối chiếu với tấm hình duy nhất lưu trong hồ sơ truy nã của cảnh sát * cũ còn lại, mô tả các dấu vết, chúng ta mới biết rằng Bạch Hải Đường - Nguyễn Ngọc Truyện (hay Truyện “xăm mình”) vẫn còn sống và đang tiếp tục ẩn nấp để phạm tội”.
yomost_love 09:06 07/05/2011
0
Cu Nên
Ấn tượng đầu tiên của tôi về Cu Nên, đó là 1 trận đánh nhau mà tôi chứng kiến. Hai bên hùng hổ lao vào nhau, túm tóc, chơi đủ đòn xấu như cắn, cấu. Sau chừng 5 phút, mệt quá buông nhau ra, kẻ bị ăn nhiều đòn hơn nức nở hét lên: " Mai tao gọi Cu Nên đến giết cả nhà mày!" Đoạn thắt lại khăn quàng đỏ, cầm cặp sách đi mất. Chuyện thật 100% các bác ạ. Thời ấy, đối với khá nhiều người lớn và cả trẻ em ở Hải Phòng, Cu Nên là một cái gì đó cực kỳ đáng sợ.

Nếu để tóm tắt về Nên, chỉ có 2 từ duy nhất: Ngông và ác. Cu Nên trưởng thành từ trường trại, mà theo 1 tờ báo thì cho tới tận bây giờ, hắn vẫn đang giữ "kỷ lục" về số tiền án, tiền sự trong giới tội phạm Việt Nam. Nhưng chỉ sau khi từ trại tị nạn Hongkong trở về, Nên mới nổi lên như một " ngôi sao đâm chém ", còn trước kia, Nên cũng chỉ giống như bao tên giang hồ vặt vô danh khác.

Cu Nên không có vẻ mặt của 1 gã sát thủ, mà ngược lại còn trắng trẻo, dễ nhìn là đằng khác. Theo một bác xích lô già kiêm coi tướng số dạo gần nhà, thì Nên chỉ có đôi mắt là vô cùng đáng sợ. Người biết Nên thường kể, mỗi khi không vừa ý chuyện gì, cặp mắt Nên vằn đỏ, ai nhìn thấy cũng biết ý tránh xa. Tính tình Nên khó đoán, lại thêm hung hãn và tàn bạo, nên không chỉ kẻ thù, mà ngay cả đàn em nếu không vừa ý cũng dính đủ đòn. Đám đàn em của Nên không có kẻ nào thuộc dạng "mắt ma", vậy mà cũng có lần, một kẻ bị chính tay Nên đâm lê ngập đùi. Lý do: đánh nhau với kẻ khác, nhưng đánh không lại, bỏ chạy và bị chém phải nằm viện. Xử xong đàn em, Nên mới kéo quân đi hỏi tội kẻ kia.

Thời gian đó ở Hải Phòng, Nên cũng không hơn gì nhiều so với Lâm già hay Dung Hà. Có điều, hắn lại là kẻ mà người dân sợ và căm ghét nhất. Lâm già thì dùng giang hồ chủ yếu để làm kinh tế, còn Dung Hà chỉ chăm chăm vài cái sòng bạc trên Trạng Trình và Kiến An, và nếu không ai *ng chạm tới, thì chúng cũng không hẳn có gì đáng sợ. Thậm chí sau này, khi Dung bị bắt, người dân trong phố còn lũ lượt kéo tới kí đơn kêu oan cho Dung nữa.

Cu Nên thì khác hoàn toàn. Bản tính hung hãn, cộng với sự sợ sệt của người dân khiến Nên trở thành một dạng hung thần ngay trong lòng thành phố. Đến tận bây giờ, người ta vẫn kể những chuyện đại loại: giữa ban ngày, Nên cho đàn em xông vào nhà người khác, đánh người ngay trước mặt công an. Thậm chí, còn chỉ mặt công an và quát: Pháp luật là tao này! Quả thật, thời điểm ấy, ngay cả chính quyền cũng không dám *ng chạm tới Nên. Công an thì cũng là con người, cũng có vợ con, cũng biết sợ cho tính mạng của cả gia đình mình, nhất là khi phải động chạm tới một kẻ như Cu Nên.

Ngay ở Hải Phòng, có một ngõ khá lớn mà trước kia, Nên và gia đình từng ở. 7 giờ tối, mọi nhà nội bất xuất, ngoại bất nhập, dạng như 1 kiểu thiết quân luật mà Nên tự đặt ra. Vô phúc bén mảng ra vào trong giờ giới nghiêm của Nên, chắc chắn sẽ lành ít dữ nhiều. Thực ra không phải chơi ngông, mà Nên làm vậy cũng vì hắn sợ cho sự an toàn của chính mình. Ân oán nhiều, nên không ít kẻ sẵn sàng thí mạng với Nên để trả thù.

Các vụ án do Nên và đám đàn em gây ra không đếm xuể, nhưng không một ai dám đứng ra tố cáo Nên. Một phần vì sợ bị trả thù, phần kia là vì có tố cáo cũng không biết gửi ai. Chỉ biết rằng một thời gian dài, Nên ngông nghênh hoành hành khắp Hải Phòng như 1 dạng trời con. Người rỗi việc cũng thường đồn đại lắm chuyện quanh gã lưu manh ngoại hạng này. Có 1 chuyện khá buồn cười: Nên tuy là tội phạm có cỡ, nhưng lại hâm mộ bóng đá và thích nhất đội ... Công An Hải Phòng. Một lần lên Hà Nội xem CAHP thi đấu, nghe cổ động viên 2 bên khích bác nhau, Nên nổi điên, phanh ngực áo chỉ tay về phía cổ động viên đội bạn thách: Bơi hết vào đây, bố tiếp từng thằng một! Đám cổ động viên bên kia đông hơn hẳn, nhưng nhìn thấy bộ dạng của Nên, tự dưng im bặt.

Quả thật, kẻ võ biền như Nên nhưng cũng có thể xưng hùng xưng bá, 1 phần do sự hung hãn và độc ác, nhưng cũng phải có 1 cái đầu tinh quái ở bên cạnh tham mưu. Kẻ thường được nhắc tới kèm với Cu Nên - chính là cái đầu tinh quái ấy: Cu Lý.




Dạo ấy Hải Phòng hầu như tháng nào cũng án mà toàn những vụ ghê gớm cả. Những cái tên Cu Nên, Lâm "già", Dung "Hà" khi ấy làm nhiều người dân khiếp sợ, không dám **ng, cũng chẳng dám tố cáo bởi chúng là những tên cầm đầu của ba ổ nhóm tội phạm khét tiếng.

Riêng Cu Nên thì chơi trội hơn cả.

Nên sinh năm 1957, người gốc Hải Phòng, là con trai độc nhất trong một gia đình có 4 chị em vì anh trai của Nên đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Nên cao ráo, trắng trẻo nhưng có bộ mặt sát nhân, lạnh lùng và lỳ lợm.

Trong lịch sử tội phạm ở Việt Nam có lẽ Phạm Đình Nên là kẻ giữ kỷ lục về tiền sự với 22 tiền sự, trong đó đa số là về tội cướp và cố ý gây thương tích. Năm 1987, sau khi đi tập trung cải tạo về, vợ chồng Phạm Đình Nên chia tay và Nên trốn sang Hongkong. Ở trại tị nạn Hồng Kông 2 năm, Nên lấy vợ hai, sinh con rồi đến năm 1989 thì phải hồi hương.

Trở lại Hải Phòng, Nên thực sự trở thành một giang hồ cộm cán chuyên làm giàu bằng các sòng bạc. Chỉ trong vòng vài năm, với những đồng tiền bẩn thỉu kiếm được từ các hoạt động tội phạm, Nên trở thành một kẻ giàu có. Lúc đó, trong khi chiếc xe máy còn là tài sản lớn mà nhiều công chức cả đời ky cóp chưa mua nổi thì Phạm Đình Nên đã có xe hơi. Ngoài ngôi nhà 3 tầng to vật vã ở số 112 đường Lạch Tray, con đường đẹp và đắt giá nhất Hải Phòng, Nên còn bỏ tiền ra mua liền một lúc 5 căn hộ ở mặt đường ngay sát cạnh nhà Nên để phá bỏ làm xưởng sửa chữa ôtô.

Ngôi nhà 112 đường Lạch Tray trong một thời gian dài là hang ổ của băng tội phạm do Phạm Đình Nên cầm đầu. Trong nhà Nên, ngoài mẹ Nên, vợ chồng Nên và 3 đứa con lúc nào cũng có hàng chục tên đàn em túc trực, để bảo vệ tính mạng cho chú Nên như lời khai của Đinh Văn Lĩnh, tức Linh cu, một tay chân thân tín của Phạm Đình Nên.

Những tên đàn em này được Nên nuôi ăn hàng ngày, được Nên sắm sửa cho các vật dụng, trang sức đắt tiền, được Nên cho tiền tiêu và để đổi lại thì bọn chúng phải bắn, giết, cướp bất cứ lúc nào khi Nên ra lệnh.

Linh "cu" là một ví dụ. Nhà ở phố Lý Thường Kiệt, Linh nghiện ma túy từ năm 15 tuổi, mỗi ngày đốt khoảng 500 nghìn đồng. Cha mẹ Linh bỏ nhau, Linh ở với bố, một người cũng khá tiếng tăm trong giới giang hồ Hải Phòng. Cha Linh do có mối quan hệ thâm tình với Phạm Đình Nên từ khi Nên mới chỉ là tay trộm cắp vặt nên mới gửi Linh xuống ở nhà Nên để “nhờ chú cai nghiện và bảo ban cháu (?!).
Ở nhà Nên, Linh không những không cai được nghiện mà còn được huấn luyện thành tay đao búa. Sau này, trong tất cả các phi vụ cướp giết để bảo vệ danh dự cho chú Nên Linh "cu" đều có mặt và là kẻ hành động chính. Tuy nhiên, khi băng tội phạm Phạm Đình Nên bị đưa ra xét xử, Linh "cu" mới 16 tuổi nên y không bị kết án tử hình mà chỉ phải chịu hình phạt cao nhất đối với trẻ vị thành niên là 20 năm tù giam.

Khi thi hành án ở trại giam Nam Hà, Linh đã đánh chết một đồng phạm cùng buồng giam và tiếp tục bị xử phạt tù chung thân. Một thời gian sau, Linh "cu" trốn trại. Khi bị lực lượng cảnh sát trại giam truy bắt, Linh "cu" đã bắn trọng thương Đại úy Nguyễn Văn Phục, cán bộ trinh sát của Cục Cảnh sát trại giam. Với tội trạng này, Linh "cu" đã bị tuyên án tử hình.

Không giống như Linh "cu", Đinh Văn Tuyển lại trở thành tay chân đắc lực của Phạm Đình Nên bởi sự lóa mắt vì tiền bạc. Tuyển sinh năm 1967, đẹp trai, cao to. Nhà Tuyển ở phường Vạn Hương, thị xã Đồ Sơn. Cả gia đình Tuyển làm nghề đi biển. Tuyển cũng xuất cảnh trái phép sang Hongkong và ở cùng trại tị nạn với vợ chồng Phạm Đình Nên. Sau này khi đã hồi hương, Tuyển không muốn quay về với nghề đi biển vì ngại khổ.

Vì thế, Tuyển đã tìm đến với Phạm Đình Nên và chỉ một thời gian sau Tuyển cũng được huấn luyện thành một tay đao búa. Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án còn lưu trữ tại Công an Hải Phòng thì trong tất cả 8 vụ cướp, giết, cố ý gây thương tích do Phạm Đình Nên chỉ huy, Tuyển và Linh “cu” thực hiện tội phạm "tích cực" nhất.

Sẵn có trong tay tiền bạc, vũ khí và cả một đám tay chân sát thủ, Phạm Đình Nên lộng hành như một ông trùm đao búa. Giữa ban ngày Nên xông vào tận trụ sở Công an phường Lạch Tray, nơi gia đình Nên cư trú để giải cứu cho đồng bọn khi tên này bị công an phường bắt giữ vì có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Không chỉ thế, Nên còn đe dọa sẽ bắn và tạt axít vào mặt phó trưởng công an phường.

Chỉ vì một xô xát nhỏ giữa gia đình chị ruột Nên và người hàng xóm, Nên đã cho đàn em đánh trọng thương một cán bộ của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng. Thậm chí ban đêm nhà Nên có trộm, một người đi đường không đuổi trộm hộ Nên cũng bị Nên sai tay chân ra đánh cho sây sẩm mặt mày.

Một tối gia đình Nên đang ăn cơm bỗng thấy có ai đó bắn vào cửa. Đoán đó là đám tay chân của Lâm già, lập tức Nên sai Linh "cu" và Tuyển, mỗi tên mang một khẩu súng đến tận cửa nhà Lâm "già" nã liền lúc hàng chục phát đạn vào nhà để dằn mặt.

Lần khác, Linh "cu" đi chơi xô xát với một thanh niên tên là Nguyễn Văn Cường. Linh gọi điện về báo cho Nên, lập tức Nên bảo Tuyển và mấy tên đàn em mang súng tới "giải quyết". Nên bảo Tuyển cứ bắn chết thằng ấy cho tao và Tuyển đã nhằm vào Cường nổ hai phát súng nhưng may là Cường không trúng đạn. Hậm hực vì không giết được Cường, Nên bảo Tuyển đi đến nhà Cường lấy báng súng đập vào đầu bố Cường cho bõ tức (?!).

Khi cháu của Nên va chạm xe với một người đi đường, Nên sai Linh "cu", Tuyển và một vài tên khác đi cùng Nên để xử lý. Tới nơi theo lệnh của Nên đám đàn em này không chỉ đâm trọng thương bạn của người đàn ông đã va chạm với cháu Nên mà khi người này phải vào Bệnh viện Việt - Tiệp cấp cứu, Nên còn cho tay chân theo vào tận bệnh viện để tiếp tục đâm.

Anh Trần Anh Tuấn, nhà ở Hồ Sen, con trai độc nhất của một người thương binh mù, bạn của người đàn ông nói trên khi hay tin bạn mình bị cấp cứu đến thăm đã bị Linh "cu", Tuyển và đám đàn em của Phạm Đình Nên đâm chết ngay tại nhà gửi xe của bệnh viện. Vụ án này đã gây căm phẫn cao độ trong quần chúng nhân dân thành phố Cảng...

Chỉ vài tháng sau khi đảm nhận trách nhiệm Phó giám đốc Công an thành phố phụ trách cảnh sát, Đại tá Trần Đồn đã có trong tay toàn bộ hồ sơ về tội trạng của băng tội phạm Phạm Đình Nên. Trong khi làm án, ông luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh người thương binh mù cả hai mắt trong nỗi đau mất con.

Tờ mờ sáng ngày 15/3, hàng đoàn xe ôtô của Công an Hải Phòng được hóa trang bằng các biển số xe Hà Nội đã đổ quân xuống tiền sảnh của Cung Văn hóa hữu nghị Việt - Tiệp, để từ đây hàng trăm cán bộ chiến sĩ thuộc các lực lượng cảnh sát điều tra, cảnh sát hình sự, cảnh sát bảo vệ... đã bao vây chốt giữ ở tất cả các điểm xung quanh ngôi nhà 112 Lạch Tray.

Đúng 10h30, ông ra lệnh cho các lực lượng vây bắt từ các vị trí phục kích đồng loạt đột nhập vào nhà số 112. Công an đã bắt giữ Phạm Đình Nên cùng 6 tên đồng bọn, thu 10 nghìn USD cùng nhiều trang sức bằng vàng.

Khám xét nhà Nên và khu vực hầm ở phía sau nhà thu giữ 1 súng tiểu liên, 3 súng ngắn, 47 viên đạn, 1 quả lựu đạn và nhiều lê, kiếm. Trận đánh nhanh, gọn, không phải nổ súng, đảm bảo an toàn cho lực lượng công an và nhân dân xung quanh. Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã gửi điện khen Công an Tp. Hải Phòng.

Nhân dân thành phố đổ ra đường chào đón lực lượng công an. Hoa và thư khen của quần chúng nhân gửi đến Công an thành phố nhiều vô kể. Phạm Đình Nên sau đó bị tuyên án tử hình.

Trong những ngày chờ thi hành án, Phạm Đình Nên đã làm thơ gửi vợ, ao ước được trở về với cuộc sống nghèo khó mà lương thiện: "Đêm lạnh trong tù anh nhớ về dĩ vãng/ Nhớ vợ hiền và đứa con thơ/ Nhớ mái nhà tranh dột nát năm nào/ Giờ thân tội tù như chim ***g cá chậu...

yomost_love 09:07 07/05/2011
0
Lâm " già "
Mặc dù ra tù với trọng lượng 27kg, nằm bẹp trên cáng vì bệnh lao kháng thuốc hành hạ, nhưng Lâm “già” vẫn thấy số mình còn “hên”, bởi bạn bè, chiến hữu trên chiếu giang hồ cùng thời với Lâm như Năm Cam, Khánh Trắng, Dung Hà, Cu Nên giờ đều đã xanh cỏ.

Trong ngôi nhà rộng mênh mông mặt tiền phố Lê Lợi, TP Hải Phòng, một chân kiềng trong thế tam trụ của giang hồ đất Cảng thập niên 90 - Lâm “già” chậm rãi kể lại những tháng năm bão tố của cuộc đời mình. Và, cũng chính cái giọng nhè nhẹ, từ tốn ấy, khác xa với kiểu ăn nói ngông nghênh, thét ra lửa hồi nào, Lâm khát khao hướng về bến thiện cho những ngày sắp tới...

Quyết chí làm giàu

Những năm thập niên 90, chiếu giang hồ Hải Phòng được thống lĩnh bởi thế kiềng 3 chân: Lâm “già” - Dung “hà” - Cu Nên. Trong đó Dung “hà” khôn ngoan xảo quyệt, ẩn mình để thống lĩnh giang hồ. Cu Nên thì khoái dùng vũ lực để nổi đình nổi đám, khuyếch trương thanh thế. Chỉ có Lâm “già”, tức Ngô Thế Lâm (SN 1956 ) là người rất nhạy bén, thức thời và hơn hẳn hai đối thủ của mình ở chỗ biết lấy tội phạm để làm kinh tế và ngược lại, lấy kinh tế nuôi tội phạm.

Thời trai tráng, Lâm phụ giúp mẹ ở chợ Sắt, Hải Phòng. Cuộc đời Lâm chỉ thực sự rẽ lối khi hoàn tất việc thụ án trong trại giam về tội trộm cắp tài sản và về làm bốc vác tại cảng cá Máy Trai. Khi ấy, Lâm 31 tuổi. Và, cũng từ ngày ấy, giang hồ gọi đặt cho Lâm biệt hiệu Lâm “già” bởi chẳng biết bệnh tật thế nào mà mặt Lâm nhăn nheo như ông lão tuổi 60.

Vốn thông minh, nhanh nhẹn nên Lâm đã được một ông chủ tổ hợp đánh bắt cá quý mến, ưu ái dành cho công việc tìm người khuân vác hàng, đồng thời tìm mối tiêu thụ hải sản tươi sống, nhờ đó mà Lâm giàu lên nhanh chóng.

Có tiền, Lâm móc ngoặc với các thủy thủ viễn dương buôn lậu hàng điện tử, xe máy, đồ gia dụng. Những năm 1990, xe mi-ni Nhật, xe cúp kim vàng giọt lệ, quạt điện là những thứ tài sản được coi là rất giá trị trong gia đình... được Lâm đánh cả container với giá rẻ mạt rồi phân phối cho khắp các thành phố lớn ở miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh... Nhờ buôn lậu, đã giàu lại càng giàu hơn, Lâm lại bỏ tiền đầu tư 11 chiếc tầu đánh cá tải trọng lớn đánh bắt xa bờ, rồi đứng ra thu mua, tiêu thụ sản phẩm. Tiếp đó, Lâm đầu tư một đội quân xích lô du lịch chuyên chở khách nước ngoài đến thăm quan thành phố Cảng, đồng thời kiêm luôn việc phục vụ đám cưới, đám hỏi. Đã có lúc, đội quân xích lô này lên đến hàng trăm chiếc và tất cả các khách sạn trong thành phố đều được Lâm bao thầu việc chở khách đi tham quan, dã ngoại.

Đại bàng gãy cánh

Càng đầu tư nhiều lĩnh vực, Lâm càng lôi kéo được nhiều đàn em, đệ tử. Và câu chuyện về đối đãi với đàn em của Lâm đến giờ vẫn được giới giang hồ Hải Phòng truyền tụng. Lâm không chỉ tạo công ăn việc làm mà còn không thu bất cứ một khoản phí nào của đàn em, y còn luôn tỏ ra hào phóng mỗi khi gia đình nào đó có chuyện chẳng lành.

Vì vậy, xung quanh Lâm luôn có nhiều đệ tử trung thành, trong đó có khá nhiều người từng có tiền án, tiền sự. Và tất nhiên, cũng nhờ những đệ tử này mà công việc làm ăn của Lâm luôn được thuận lợi, vì hễ có bất cứ một đối thủ nào muốn cạnh tranh với Lâm thì bằng mọi cách, đám đệ tử ép bằng được đối thủ của Lâm phải “chết yểu”.

Biết thế nào công an cũng sờ gáy trước sự giầu có bất thường của mình, nên Lâm quyết định “rửa tiền” bằng cách đấu và trúng thầu hồ đào Lạch Tray rộng 13ha để thả cá và xây dựng khu du lịch sinh thái. Nhưng thực chất là một mũi tên trúng hai mục đích: vừa qua mặt công an, vừa xây dựng tại đây một kho tập kết hàng lậu lớn nhất Hải Phòng thời bấy giờ. Ngoài ra, Lâm còn trang bị một dàn xe ô tô 4 chỗ để chuẩn bị thành lập công ty taxi đầu tiên ở miền Bắc.

Tuy nhiên như đã nói ở trên, trên chiếu giang hồ TP Cảng ngày ấy tựa thế kiềng ba chân nên Lâm càng ăn nên làm ra, băng nhóm Cu Nên càng sợ bị lép vế. Vì vậy, mặc dù chẳng tranh giành đất làm ăn, nhưng thi thoảng Cu Nên lại cho đàn em nghễu nghện vác súng đến trước nhà của Lâm để... dằn mặt. Sau mỗi lần như vậy, Lâm lại cho đàn em đến tận nhà riêng của Cu Nên xả cả băng AK để trả đũa, khiến Dung “hà” phải nhiều phen đứng ra giảng hoà.

Cũng trong một trận dằn mặt nhau kiểu ấy, một đàn em thân tín của Lâm bị trọng thương, khiến Lâm điên tiết cho đàn em đi trả thù, xong vẫn chưa nguôi giận. Trước đó, y đã bị công an “rung giật” về chuyện sẽ đấu tranh triệt để với những ổ nhóm tội phạm xã hội đen như của Lâm, khiến y đau đầu tìm lối thoát.

Thấy đại ca buồn bã, một đệ tử đã hiến kế phải “giải đen” bằng cách phá trinh con gái (tên này đã đi bắt cóc một bé gái 14 tuổi phụ giúp nhà hàng bên cạnh hồ cá của Lâm về dâng tặng đại ca, sau đó do không bịt miệng được bà chủ nhà hàng bằng tiền và vàng, đàn em của Lâm đã ra tay “xử lý” người này - PV). Và chính kế sách sai lầm này của đàn em đã khiến Lâm phải vào “bóc lịch” trong tù với mức án 16 năm tù giam vì hai tội: giết người và xâm hại vị thành niên.

Hạnh phúc lớn nhất là vẫn được chăm nom mẹ già

Chúng tôi gặp Lâm “già” tại nhà riêng khi đại ca giang hồ này vừa được trả tự do. Một trong tam trụ của giang hồ Hải Phòng một thời giờ đã là ông lão 60, dáng người nhỏ thó, gầy gò nhưng giọng nói có vẻ cởi mở hơn. Bấm đốt ngón tay, Lâm “già” tính đã bóc lịch trong trại giam đúng 10 năm, 6 tháng, 27 ngày.

Lần lượt chuyển từ trại Xuân Nguyên (Hai Phòng) qua Trại 5 (Thanh Hoá) rồi vòng về Phú Sơn (Thái Nguyên), ở bất cứ trại nào khi Lâm đến, đều được các đàn em đang thụ án tại đó đón tiếp tử tế. Có nhiều kẻ tứ chiếng giang hồ không ở Hải Phòng nhưng nghe danh Lâm “già” cũng đều bày tỏ thái độ kính nể.

Tuy nhiên căn bệnh lao kháng thuốc đã vắt kiệt sinh lực của Lâm. Ngày được đặc xá, Lâm chỉ nặng 27kg, hai chân gần như liệt, nên đành phải nằm trên cáng để vợ con đưa về. Về nhà, được một số đàn em, những người từng mang ơn Lâm ngày trước giúp đỡ về tài chính để Lâm chạy chữa bệnh tật. Khi gặp chúng tôi, Lâm cho biết vừa trả bình oxy được 3 giờ đồng hồ, tức là đã qua cơn nguy kịch.

Tuy nhiên căn bệnh lao kháng thuốc vẫn phải điều trị. Mỗi tháng, chỉ tính nguyên tiền thuốc đã mất gần 5 triệu, nhưng Lâm không phải lo, vì khoản này đã có một đàn em xung phong chịu trách nhiệm. Một số đàn em khác xung phong “trả lương” người 5 triệu, người vài ba triệu hàng tháng cho “anh Lâm” để... tiêu vặt. Những người này sẵn sàng trải chiếu hoa mời Lâm đến làm việc tại công ty mình nhưng Lâm đều từ chối.

Chia sẻ với chúng tôi, về tương lai của gia đình, Lâm cho biết, mặc dù của nả đã đội nón ra đi hết nhưng điều Lâm mừng nhất là ba cô con gái xinh đẹp đã trưởng thành, thông minh, sắc sảo. Mẹ già tuy hơi lẫn một chút nhưng ông ta vẫn còn có cơ hội được cùng vợ chăm sóc.

Hiện kinh tế gia đình đang trông vào quán bún ngan buổi sáng rất đông khách của vợ. Nếu chỉ mưu cầu một cuộc sống bình thường, thì số tiền vợ kiếm được cũng đủ để cả gia đình sống tằn tiện qua ngày. Tuy nhiên, theo Lâm thì ông ta không muốn phải sống dựa vào vợ, lòng tốt của mọi người. Chính thế, Lâm bảo, chỉ cần đợi sức khoẻ khá lên một chút, Lâm sẽ lại xông ra thương trường để kiếm sống.

Kế hoạch của Lâm có thể là sẽ bán ngôi nhà rộng thênh thang ở mặt phố Lê Lợi, mua một ngôi nhà nhỏ hơn để lấy vài tỷ dôi ra đó làm vốn kinh doanh. Tất nhiên, lần này sẽ là làm ăn đúng đắn, không vi phạm pháp luật, vì theo nhận định của Lâm thì bây giờ mới là thời điểm vàng của thương gia.


yomost_love 09:08 07/05/2011
0
Đại Cathay
Sinh ra để làm trùm của những thằng trùm


Nếu ai có theo dõi vụ án của Năm Cam thì chắc k0 ngạc nhiên khi nghe đến tên Đại Cathay, đại ca của Lâm chín ngón - kẻ đã bị nữ quái Dung hà tạt axit. Bài đầu của "Huyền thoại" giang hồ phương Nam xin post nhân vật này đầu tiên vì ảnh của Đại Cathay trên báo thực sự ấn tượng bởi vẻ điển trai cũng như nụ cười nhếch khóe môi của kẻ sinh ra để làm Trùm của những ông trùm này.

dai.png

Ngày ấy, thời Mỹ Ngụy, danh tiếng của người đứng đầu “tứ đại giang hồ” là Đại Cathay được cả miền Nam đều biết tiếng, nhất là sau này qua cuốn tiểu thuyết rẻ tiền của nhà văn Duyên Anh “điệu ru nước mắt”. Trận hỗn chiến giữa Đại Cathay với Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái, Nguyễn Kế Thế đã đưa Đại lên đứng đầu nhóm này. Trận chiến kinh hồn với băng * người Hoa của Tín Mã Nàm đã cho Đại Cathay lập nên một đế chế mà khắp Sài Gòn chẳng có một băng nhóm nào dám đối đầu. Cả một bộ máy quân sự khổng lồ của miền Nam cũ với sự hà hơi tiếp sức của quan thầy Mỹ há sợ một tên du đãng Đại Cathay đến nỗi tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ phải “xuống nước” mời ra làm nhân viên công lực quốc gia hay tướng cảnh sát Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan mời làm đại úy cảnh sát. Xem ra báo chí văn chương đề cao gã du đãng này quá?

Ngay cả đám giang hồ cộm cán, đám đàn em tin cẩn cũng không ai biết hắn con ai, tên thật là gì. Chính Đại Cathay cũng… không biết tên thật của mình nốt. Hơn chục lần bị điệu về bót cảnh sát, Đại tự khai cho mình hơn chục lai lịch khác nhau. Theo đó, cha của hắn lúc là Lên Văn Cự, lúc lại là Trần Văn Trự… Mẹ của Đại Cathay cũng khá… nhiều tên, lúc là Hương, lúc là Duyên, sống hay chết thì “có trời mà biết”. Nói tóm lại, như Đại Cathay thường tự nhận, gã là một thằng… con trời có lẽ xuôi tai hơn cả.

Kì thực, Đại tuổi Thìn, sinh năm 1940. Theo tìm hiểu của chúng tôi, mẹ của Đại tên gì không rõ, chỉ biết người xung quanh thường gọi là bà Sáu. Còn cha Đại thì chính tên là Lê Văn Cự, vốn cũng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ Cầu Muối. Sau năm 1945, Hai Cự tham gia kháng chiến, trở thành lính của “Mười ban tự vệ công tác thành”, sau đó bỏ vào chiến khu rừng Sác đầu quân vào bộ đội Bình Xuyên của thủ lĩnh Ba Dương (tức Dương Văn Dương). Đại sinh ra giống cha như đúc nhưng tuổi thơ rất ít được gần cha. Thuở nhỏ, gã sống với cha mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội (nay la Đoàn Văn Bơ Quận 4). Cả cha lẫn mẹ của hắn đều nghèo, làm nghể chẻ củi thuê cho một vựa củi nằm bên kia Cầu Mống, cạnh chợ cũ, Quận 1. Đại thường xuyên trốn học chạy sang chơi vơi đám trẻ con bụi đời cạnh vựa củi. Hiền lành, ít nói, dù khuôn mặt rất ngầu, tính phóng khoáng, lại rất "lì đòn", những đức tính được "thừa kế" đầy đủ từ cha đã giúp Đại nhanh chóng được đám trẻ đồng cảnh mến mộ. Mới 10 tuổi, gã đã thường xuyên luồn lách vào các chợ, sạp hàng xung quanh, ăn trộm dưa, chuối về chia cho chúng bạn.

Sau 1945 cha Đại tham gia kháng chiến và bị bắt vào cuối năm 1946, bị đày ra Côn Đảo và ít lâu sau thì chết. Cha mất, mẹ lấy chồng khác. Bố dượng là 1 tay máu me cờ bạc, lại nghiện thuốc phiện năng nên gia sản dần dần biến hết. Cáu bẳn vì sinh kế, ông dượng thường nọc đứa con riêng của vợ ra hành hạ để hả cơn bực tức. Không chịu nổi, Đại bỏ học hẳn, sang vườn hoa Cầu Mống đánh giày, bán báo tự nuôi thân. Khu vực làm ăn của Đại là xung quanh ngã tư Công Lý (nay là Khởi Nghĩa) – Nguyễn Công Trứ. Tại đó có 1 rạp chiếu bóng tên là Cathay. Không ngày nào trước cửa rạp hát không xảy ra những vụ đánh lộn giành khách giữa đám trẻ bụi đời. Lì lợm và liều lĩnh, Đại cứ lăn xả vào đối thủ liên tục tấn công, dù kẻ đó có cao hơn nửa cái đầu cũng mặc. Trăm lần như một, Đại luôn là kẻ chiến thắng, dù tay chân mặt mũi đầy vết rách bầm. Nghiễm nhiên, hắn trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực trong khu vực. Cũng nghiễm nhiên, gã được quyền ráp thêm "tên đất" vào sau tên cúng cơm để trở thành Đại Cathay, "đại ca" đường Nguyễn Công Trứ. Đó là năm 1954 lúc Đại mới 14 tuồi.

Trở thành "anh chị", Đại được quyền sống mà không mó tay vào bất cứ việc gì. Hắn vẫn đóng thùng đánh giày, nhưng là để giao cho đàn em "đi làm" mang tiền về nộp. Mỗi buổi sáng, hàng chục thiếu niên Ba Binh, Ba Tướng, Ba Gà (hỗn danh để gọi đám trẻ du đãng chưa có tên tuổi. Ba Binh là quân sư, Ba Tướng là những thằng trực tiếp đi đánh nhau còn Ba Gà là những tên thuyết khách) cả trai lẫn gái tụ tập quanh Đại Cathay nhận công việc và địa bàn do hắn cắt cử, sau đó túa đi, chiều lại đem tiền về cho Đại. Được cái, hắn rất hào phóng, Đại Cathay chia hết tiền cho đàn em, chỉ giữ lại cho mình 1 khoản nhỏ, đủ cà phê, thuốc lá cho ngày kế tiếp. Những đàn em không may bị ế báo, bị mưa ướt thuốc, kẹo phải đền tiền, Đại Cathay cũng không chửi bới, đánh đập như những tên "chăn chíp" tham lam khác mà còn lấy của đứa "trúng mánh" cho thêm. Vì vậy, đàn em rất khoái và chịu nghe lời "anh Đại". Tình trạng đánh lộn, tranh giành khách trong khu vực của Đại Cathay được dẹp yên.
Vươn cánh thành "Đại bàng"

Nằm ngay cạnh khu vực của Đại Cathay là bót cảnh sát quận Nhì, thường được gọi là bót Dân Sinh, nổi tiếng dữ dằn. Rất nhiều lần, sau khi dẫn đàn em đi chinh phạt các khu vực khác hoặc đánh dằn mặt người của các băng nhóm đến giành lãnh địa, Đại Cathay đã bị các công cò bót quận Nhì xách tai lôi về bót. Hăm dọa, tát tai, đá đít đủ kiểu, thằng nhóc vẵn trơ trơ không chịu khai tên tuổi những đàn em tham gia ẩu đả, đám mã tà phú lít lại đành thả Đại về. Hết thuốc, các ông cò nảy ra đòn độc để trị Đại Cathay, bắt đàn em của đại đứng xem. Chúng bắt thằng nhóc quỳ giữa sàn nhà, hai ông cò hai bên xốc ngược tay Đại lên, cạy mồm, thả vào một con gián sống. Con vật lập tức chui tọt vào cổ họng lao thẳng xuống dạ dày. Ngứa ngáy, kinh tởm và nhột không chịu được, Đại Cathay ói ra mật xanh, mật vàng. Đám Ba Binh, Ba Tướng xung quanh lè mắt, có đứa hét lên ngất xỉu và * ra quần. Đại Cathay, sau một hồi nôn thốc nôn tháo, bắt đầu trấn tĩnh, lại tiếp tục câm như hến, tuyệt đối không khai. Không còn cách nào khác, các thầy cảnh sát đành tống Đại Cathay vào trại tế bần hoặc Trại giáo hóa thiếu nhi phạm pháp ở Thủ Đức.

Ở miền Nam trước giải phóng, có bốn nơi được coi là “lò đào tạo du đãng”. Nơi thứ nhất là Trại nuôi dạy trẻ mồ côi, cơ nhỡ nằm tại địa điểm nhà hát Hòa Bình hiện nay. Nơi thứ hai, Làng cô nhi Thủ Đức, điều kiện sống khá hơn nhưng vẫn rất lỏng lẻo, tha hồ cho đám tiểu yêu phá phách. Những tên nhóc bất trị nhất, hai trại trên đều không chứa nổi thường bị cảnh sát lùa vào Trại giáo hóa Thủ Đức. Thực chất, đây chỉ là nơi nuôi báo cô đám du thủ du thực, chờ chúng đủ tuổi là đẩy vào quân đội. Nơi thứ tư, Trại Tế Bần nằm bên kia cầu Trình Minh Thế (nay là cầu Tân Thuận), là một Trạm trung chuyển giam giữ những tên lưu manh sắp hết tuổi vị thành niên. Sau nửa tháng bị giam, nếu có người nhà bảo lãnh, đóng phạt, tên tiểu yêu sẽ được cho ra. Nếu không chúng sẽ bị nhốt lại, chờ đủ tuổi là tống vào đội quân “cưỡng bức phục vụ” tức lao công phục vụ chiến trường. Kẻ nào bị liệt vào hạng này coi như cầm chắc cái chết. Ngoài mặt trận, việc của họ là đi trước phát cây, mở đường, đào công sự, trong khi chân không giày dép, hai người chung một sợi dây xích chân, muốn chạy cũng không được, mặc kệ mưa đạn vãi cả trước mặt lẫn sau lưng. Biết trước số phận “bia thịt” của mình nên đám du đãng vào trại tế bần chưa ấm chỗ đã tìm cách trốn. Lọt ra khỏi vòng rào các trại, đám nhóc lại lần về với các băng nhóm du đãng, bụi đời.

Hầu hết đám giang hồ Sài Gòn nổi tiếng sau này đều đã từng qua đủ các trại nói trên. Thuộc hàng vào ra như cơm bữa, Đại Cathay được liệt vào loại “tù con rạ”, để phân biệt với đám “tù con so” mới nhập trại lần đầu. Ở các trại, Đại Cathay đã làm quen với những Của Gia Định, Lâm chín ngón, Hắc quảy quảy, Hòa áo thun… những chiến hữu đắc lực sau này trên chốn giang hồ.

Mỗi lần vào trại rồi trốn ra, Đại Cathay càng liều lĩnh hơn, kinh nghiệm hơn, càng “tích cực” lao đầu vào những trận thư hùng - vốn là thứ năng khiếu nổi trội hơn cả ở hắn.

Năm 1955, Đại Cathay chuyển sang sinh sống ở khu vực Hãng phân Khánh Hội cạnh Nhà máy thuốc lá Bastos. Đám trẻ con khu vực này đón tiếp Đại Cathay khá nồng nhiệt bằng những trận hỗn chiến. Một lần nữa, sự lì đòn của Đại lại giành phần thắng. Toàn bộ nhóc tì khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, gồm toàn dân bến tàu vựa cá, vựa rau cải – vốn có hạng trong nghề dao búa – đều bị Đại Cathay qui phục về dưới trướng.

Khi Đại Cathay còn là một cậu bé đánh giày thì toàn bộ khu vực Cầu Mống - Dân Sinh - Cầu Ông Lãnh mà dân giang hồ gọi là khu Da Heo, đều do một tay giang hồ nổi tiếng là Tám Lâu cai quản. Ở trần, quần dài vắt vai, đi đứng nói năng khụng khiệng, nét mặt luôn đằng đằng sát khí, Tám Lâu bị bà con khu Da Heo coi như một hung thần. Nghề chính là đạp xích lô, nhưng thực chất Tám Lâu là kẻ nhận quyền bảo kê thu thuế toàn bộ khu Da Heo, dưới trướng có hàng chục đàn em. Dưới nệm xích lô, Tám Lâu luôn thủ sẵn "hàng mã", sẵn sàng vung ra bất cứ lúc nào với bất cứ ai.

yomost_love 09:09 07/05/2011
0
Một góc Cầu Ông Lãnh xưa.

Nhiều lần chứng kiến thằng nhóc đánh giày dẫn quân đập lộn, Tám Lâu đâm "chịu" Đại. Thỉnh thoảng ngồi nhậu thấy Đại đi qua, Tám Lâu lại ngoắc vào kê ghế cho ngồi cạnh mần hơi cho ấm bụng. Qua những lần nhậu ké đó, Đại Cathay được Tám Lâu giới thiệu như một tay trẻ tuổi tài cao đầy hứa hẹn với đám giang hồ đàn anh: Ba Hội, Cảnh Tượng... Tám Lâu cũng thường đưa Đại đến các khu Lò Heo (cũ), Chánh Hưng, hẻm Hai mươi để làm quen với các tay anh chị khu vực khác. Nể tình Đại Cathay cũng hay ghé đến hẻm 110 Nguyễn Công Trứ để thăm hỏi Tám Lâu.


Tuy hung tợn, dữ dằn nhưng Tám Lâu vẫn phải thúc thủ trước uy thế của anh em Bé Bún, một trùm giang hồ quận 4, khu vực cạnh Hãng phân nơi Đại Cathay trú ngụ. Cậy đông quân lắm mã, đám này thường kéo rốc qua Cầu Ông Lãnh, tràn vào "thu thuế" giật bà con thiểu thương chợ vựa Cầu Muối, Tám Lâu không cản nổi.


Một ngày cuối năm 1957, tình cờ nghe đàn anh thở ngắn than dài, nộ khí xung thiên, Đại Cathay đề xuất:

- Anh Tám để đó em lo. Phải cho Bé Bún nằm viện, đám này mới ngán!

Tám lâu gạt phắt:

- Con nít biết gì? Tao còn thua nó, mày là cái đinh gỉ!

Tự ái Đại Cathay bỏ về. Lúc này đám Ba Binh, Ba Tướng của Đại cũng đã lớn, toàn thanh niên 17, 18 tuổi, lại lăn lộn lề đường nhiều nên cũng khá dày dạn. Nghe lời Đại Cathay, đám này vác dao qua Bến Vân Đồn "chém bậy" vài tay em của Bé Bún để khiêu khích. Điên tiết, Bé Bún hô toàn bộ em út tấn công sang khu Da Heo hỏi tội Tám Lâu. Quân Bé Bún quá đông, khiến Tám Lâu và đám đàn em hoảng hốt, định bỏ chạy. Nhưng vừa qua khỏi Cầu Ông Lãnh, băng Bé Bún đã ôm đầu máu chạy ngược trở lại, kêu la vang trời. Không nói trước với đàn anh nửa câu, Đại Cathay đã âm thầm cho đàn em của mình "trải đệm", bất ngờ "luộc" băng Bé Bún. Dưới sự chỉ huy của Đại Cathay, đám giang hồ tân binh tả xung hữu đột lăn xả vào chém quân Bé Bún, xộc thẳng sang cả bên kia cầu. Nói là làm, Đại Cathay đã xỉ cho Bé Bún mấy nhát sau đó phải nằm viện thật, không dám bén mảng sang giành mối ở khu Da Heo nữa.


Sau trận hỗn chiến, Tám Lâu đâm ớn "tài ba" của Đại Cathay. Một mặt, Tám Lâu tuyên bố trong khu Da Heo, Đại Cathay có toàn quyền xử sự, mặt khác y lại lo ngay ngáy bị Đại Cathay lấy làm đối thủ. Biết ý, Đại tuyên bố không giành đất, khu Da Heo vẫn của Tám Lâu. Phần Đại, gã chỉ thu thuế các sòng bài, ổ đề, tiệm hút trong khu vực. Tiếp đó, Đại vươn tay bảo kê tất cả các ngành nghề kinh doanh lậu bao gồm xưởng nấu xà phòng, lò mổ heo, lò rượu...trong khu. Có tiền có quyền, Đại dần dần đã khiến các tay anh chị khác phải dạt ra. Đại Cathay tha hồ ăn chơi và làm mưa làm gió.


Đầu những năm 1960, thuyết hiện sinh và phong trào hippie bắt đầu thâm nhập vào miền Nam. Các cậu ấm cô chiêu con nhà giàu tuy được ăn học đàng hoàng nhưng cũng học đòi nhau, thường xuyên có mặt ở các nhà hàng, vũ trường, tiệm hút với đủ kiểu quần áo tóc tai dị hợm. Đại Cathay tuy ít học nhưng cũng không hề kém cạnh các bậc trí... giả trong khoản ăn chơi. Nhẵn mặt ở các nơi đốt tiền nổi tiếng của quận 1, quận 3, Đại Cathay và đám đàn em bắt đầu quen biết với một đám sinh viên, kỹ sư, bác sĩ con nhà gia thế, trong đó có anh em Dzách Bửu, Dzí Bửu, Hùng Đầu bò, Hoàng Sayonara (tay này móc classic bản Sayonara rất "não nùng")... và nhiều văn sĩ nghệ sĩ khác. Đám nghệ sĩ trí thức cũng nể Đại Cathay chịu chơi và khoái vẻ ngang tàng, bụi bặm của gã- trông bụi đời, hippi hơn cả. Chính Hoàng Sayonara sau đó đã trở thành quân sư hoạch định chiến lược làm ăn và chinh phạt cho Đại. Nghe lời các quân sư, Đại Cathay đứng ra cùng với Bảy Si, bà Bảy Trà đá mở sòng bài lấy xâu ở khu vực Cầu Muối.

Ban Đầu Đại Cathay không thích mở sòng bài vì dân giàu có đã có các sòng Đại Thế Giới, Kim Chung... Mở nữa e không cạnh tranh nổi, Hoàng Sayonara vẽ:
- Không chỉ giàu mới máu me đen đỏ. Các sòng lớn như Kim Chung, Đại Thế Giới toàn dân quí tộc, chức sắc, dân giang hồ, người buôn bán ngại vô. Ta mở sòng vừa vừa kéo khách từ đám này.

Đại Cathay đồng ý. Ở chợ Cầu Muối trước đó Bảy Si (anh vợ Năm Cam – ông trùm sòng bạc sau này) đã có sòng bài sẵn, nhưng khi nghe Đại Cathay đề nghị hùn hạp, Bảy Si cũng không thể chối từ. Thừa thắng, Đại mở rộng ra cả lĩnh vực làm huyện đề 40 con chung với Hỏi, trùm, khu Cây Da Xà. Hắn mua của Hùng đầu bò một chiếc Traction - 15, chiều chiều cho đàn em lái đi khắp các ngả đường vứt lên từng xấp "phơi" đề cùng với hàng cọc tiền chở về. Quyền lực được tiền bạc hậu thuẫn khiến Đại Cathay càng thêm uy thế. Đến năm 1962, 1963, Đại Cathay đã trở thành một ông trùm khét tiếng. Gần như hầu hết nhà hàng khách sạn, động mại dâm, tiệm hút chích, sàn nhảy ở khu vực quận 1, quận 2 đều chịu sự bảo kê của Đại. Các vũ trường nổi tiếng như Olympic, Queen Bee, Barcara, Paramouth đều coi hắn như ông chủ đích thực, Đại Cathay và đàn em tha hồ ăn chơi nhảy múa mà không một nơi nào dám viết hóa đơn, thậm chí còn lấy làm vinh hạnh vì được đàn anh chiếu cố.

Nhưng nguồn lợi lớn hơn cả mà Đại Cathay thu được lại không phải từ tiền thuế bảo kê. Chính giới doanh nghiệp làm ăn lớn là kẻ tình nguyện đóng góp đều đặn để Đại nuôi quân, đồng thời để nhờ vả Đại làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật trên thương trường với kẻ khác. Cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (Vua kẽm gai), Xí Ngàn mặt rỗ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại. Cũng nhờ uy thế của các "vu", Đại Cathay cũng làm quen, "chơi chịu" được với khá đông nhân vật quyền thế và tên tuổi khác.

Chỉ năm năm sau ngày khởi sự ở khu Da Heo, Đại Cathay đã trở thành một ông trùm không đối thủ, được toàn giới giang hồ kiêng dè, sợ hãi. Nhưng vẫn còn ba ông trùm "lừng lẫy" khác không ưa gì Đại Cathay, đó là Huỳnh Tỳ, ông trùm Lê Lại, Ngô Văn Cái và Ba Thế. Cho rằng Đại "chơi kèo trên", giành mối, giành đất, Huỳnh Tỳ và Ngô Văn Cái quyết định "hội đồng" diệt Đại. Hai tên giang hồ họp nhau tại vũ trường Aristo (sau này là khách sạn Lê Lai, cạnh khách sạn New World) cùng một giang hồ gộc là Thế Aristo - chủ vũ trường - có thêm Hùng phốc và Luân - 2 giang hồ cộm cán khác cùng hỗ trợ, mời Đại đến "bàn công việc". Không chút nghi ngờ, Đại Cathay đã bất ngờ bị Thế Aristo đá lộn cổ trở xuống. Bốn kẻ phục kích cũng nhất tề rút dao xông vào chém. Đại Cathay vừa đỡ đòn vừa tìm đường thoát thân, chạy được ra ngoài, mình mẩy đầy thương tích nhưng may không chết. Những vết thương chưa kịp kéo da non, Đại đã đơn thương độc mã giắt dao đi tìm từng tên một trị tội. Cả năm tên đều lần lượt bị Đại Cathay chém trọng thương. Cuối cùng Tám Lâu phải nhờ Cảnh Tượng, Ba Hội và một số tay đàn anh khác xin lỗi giúp cho năm tên, Đại Cathay mới nguôi giận, đồng ý "hòa giải". Danh xưng "Tứ Đại giang hồ" ĐẠI - TỲ - CÁI - THẾ bắt nguồn từ đó.

Lẽ ra, với những thành tích bất hảo chồng chất lên nhau, Đại Cathay đã ngồi tù mọt gông từ những năm trước đó. Nhưng xã hội miền Nam đầy nhiễu nhương với bộ máy quan chức được mua bán bằng tiền đã tỏ ra bất lực không trị nổi Đại Cathay và đám du đãng, để mặc kệ cho chúng làm mưa làm gió. Vào thời đó, chức quận trưởng quận 1 trị giá 30 triệu đồng, trong khi lương lính chỉ hơn 300 đồng cho nên những kẻ đương chức chỉ tìm cách vơ vét, làm giàu để bù lại số tiền đã bỏ ra mua lon tước. Cò Ly, quận trưởng quận 1 còn cố tình dung túng cho Đại Cathay mở sòng bài, hoạt động bảo kê thu thuế. Bù lại, hằng tháng, Đại đều có những khoản riêng béo bở tuồn vào cửa sau cho vợ ông Cò. Mỗi chiều thứ bảy, cò Ly và Đại Cathay lại sánh vai nhau bước vào các vũ trường nhà hang sang trọng ăn chơi, đập phá thâu đêm. Đương nhiên, lương quận trượng một năm cũng không đủ chi cho một lần nhất dạ đế vương nên ông cò chẳng bao giờ phải nghĩ đến chuyện móc hầu bao.

Có tiền, có quyền, có thế, Đại Cathay quyết định bành trướng xuống Chợ Lớn, lãnh địa của Tín Mã Nàm, ông trùm giới Hắc Đạo người Hoa, xưa nay vẫn được coi là bất khả xâm phạm.

So với băng du đãng của Đại Cathay, giới Hắc Đạo của Tín Mã Nàm có tổ chức chặt chẽ và hùng hậu hơn nhiều. Dưới thời Diệm - Nhu, toàn bộ hoạt động kinh tài của các bang hội Hoa Kiều Chợ Lớn đều có cổ phần của giới Hắc Đạo. Toàn bộ nhà hàng, sòng bạc, tiệm hút... đều do giới này quản lý hoặc hùn hạp. Tuy nhiên, sau đảo chính tháng 11/1963, do tham lam, chính Tín Mã Nàm đã khiến giới Hắc Đạo suy yếu. Bắt tay với khá nhiều tướng lĩnh, chính khách thuộc phe đảo chính, "Con ngựa điên" đã bán đứng một số cơ sở kinh tài của các bang hội cho chính quyền mới, tố họ là "cơ sở kinh tài của Diệm - Nhu". Mặt khác, Tín Mã Nàm cũng tố cáo và giao nộp cho cảnh sát một loạt tay giang hồ Hoa kiều không ăn cánh với y như Hỏi Phòong Kin, Sú Hồng, Cọp Chảy, Quầy Thầu Hao, Hắc Quẩy Chảy... nhằm củng cố địa vị "Vua Hắc Đạo" của mình. Vì vậy, Tín Mã Nàm được trung tá Lê Ngọc Trụ - Trưởng ty cảnh sát quận 5 trọng dụng và ưu đãi, trong khi bị nhiều đàn em oán giận và tìm cách trả đũa.

Trong những kẻ oán Tín Mã Nàm có tay tài pán tên Chó, người giúp việc cho Tín Mã Nàm quản lý ngành kinh doanh cờ bạc. Biết được sự chia rẽ đó, Đại Cathay đã sai đàn em dụ hàng tên này. Chó đã bán đứng Tín Mã Nàm, kéo một lượng lớn các con bạc nặng ký từ các sòng Đại Thế Giới, Hào Huê về Cầu Muối cho sòng của Đực Bà Tiều và Bảy Si thuộc quyền Đại Cathay, đồng thời bỏ luôn khu Chợ Lớn về theo Đại Cathay mở mang sòng bạc ở khu Sài Gòn. Biết chuyện, Tín Mã Nàm hạ lệnh cho giới Hắc Đạo:
- Chém bất cứ tên đàn em nào của Đại Cathay bén mảng xuống Chợ Lớn.

Chỉ chờ có thế, suốt 12 tháng trời, Đại Cathay đã liên tục đổ quân tập kích xuống các điểm làm ăn của Tín Mã Nàm ở vùng Chợ Lớn, chém phứa vào bất cứ ai rồi tức tốc bỏ chạy. Người bị chém thường là dân lành, khách chơi, chính vì vậy họ đâm sợ các điểm ăn chơi giải trí của Hắc Đạo, không dám lui tới nữa. Vắng khách, thu nhập thấp, đám cô hồn bảo kê của Tín Mã Nàm đành túa ra làm ăn lẻ để gỡ gạc, bất chấp kỷ luật của ông trùm. Nhưng cứ tên Hắc Đạo nào lọt xuống khu Sài Gòn là tên đó bị đàn em của Đại Cathay chặn đánh. Đầu năm 1964, biết phe Hắc Đạo đã hết phong độ, Đại Cathay quyết định đánh trận cuối, Đại dẫn theo 9 tên đàn em "chiến đấu" nhất, trong đó có Ba Thế và Lâm chín ngón đi trên 5 xe Goebel bất thình lình tấn công vào quán cà phê ngay trước rạp Hào Huê, đối diện với Đại Thế Giới. Đây là điểm tụ tập của các tay đàn em Tín Mã Nàm vào 2 buổi sáng chiều.

Cuộc tập kích thất bại, hai bên đều thiệt hại nặng nề. Nhưng máu liều của Đại Cathay càng được giới giang hồ truyền tụng và vị nể. Tín Mã Nàm cũng lo lắng: nếu cứ để cho Đại Cathay tập kích mãi như vậy, giới Hắc Đạo chỉ còn nước dẹp hết sòng bài, tiệm hút vì không còn ai dám bén mảng. "Con ngựa điên" phải kìm cơn điên, cử người đến mời Đại Cathay lên nhà hàng Đồng Khánh điều đình. Đàn em cố khuyên Đại đừng vào hang cọp, e bị "trải điệm" nhưng Đại Cathay nổi máu yêng hùng, vẫn quyết định nhận lời. Để tài xế ngoài cửa, Đại một mình tay không lên nhà hàng hội kiến với Tín Mã Nàm. Cử chỉ ngang tàng này khiến Tín Mã Nàm thầm phục. Hắn nhượng bộ, đồng ý giao toàn bộ khu vực từ chợ Nancy về Sài Gòn cho Đại Cathay toàn quyền . Phần quận 5, Chợ Lớn, đàn em của Đại được phép hoạt động với điều kiện không lấn vào những khu vực đã có sẵn người của Hắc Đạo. Riêng các khu vực chợ Sắt, chợ Tân Thành, hẻm "dzách bạc hồ hãn" (hẻm 100), Đại Cathay và đàn em tuyệt đối không được xâm phạm, vì đó là giang sơn riêng của Tín Mã Nàm, nơi vợ bé của y sinh sống.


Mỗi lần ra đường, Đại Cathay và băng du đãng lại một phen khiến người đi đường khiếp vía. Như một gã con trời thứ thiệt, Đại Cathay chễm chệ trên băng trước chiếc Mustang mui trần do Năm Công lái, có cả chục tên đàn em phóng xe máy theo sau hộ tống. Xe chạy xả ga, hú còi vô tội vạ khiến mọi người hốt hoảng chạy giạt sang hai bên đường, trong khi đám lưu manh tha hồ vỗ tay cười hô hố. Có lúc cao hứng, Đại Cathay còn thượng cả hai chân ra trước kính xe hoặc thò ra bên cửa hông gỏ thùng xe loạn xạ…

Sự ngang ngược coi thường luật pháp của Đại Cathay khiến những kẻ tai to mặt lớn và cảnh sát ngụy hết sức tức tối, nhiều lần tống cổ Đại vào khám. Nhưng bắt cóc bỏ *a, chẳng lần nào cảnh sát đủ bằng chứng để giam giữ hắn lâu, đành phải thả. Dùng luật không xong nhiều quan chức ngụy tìm cách mua chuộc hắn.
Biết Đại Cathay đang tuổi quân dịch, viên tướng cao bồi Nguyễn Cao Kỳ - có lẽ do muốn chơi trội – bèn cho gọi tên du đãng đến. Kỳ phủ dụ:

- Tôi biết anh là người có chí, nhưng luật là luật, anh không thể trốn mãi được đâu. Về làm vệ sĩ cho tôi, anh vừa khỏi đăng lính, lại vẫn có quyền hành, muốn đi đâu làm gì mặc sức mà khỏi bị ai thù oán. Anh cứ suy nghĩ cho kỹ, ba ngày nữa trả lời tôi cũng được.

Tên du đãng ít học đời nào chịu suy nghĩ những ba ngày. Kỳ chưa dứt Đại Cathay đã trả lời luôn:

- Dạ, cảm ơn thiếu tướng đã có thịnh tình chiếu cố. Phiền nỗi tôi đi đâu cũng có cả chục gạc-đờ-co hộ tống, giờ tôi lại làm gạc-đờ-co cho người khác, không lẽ để cho tụi nó thất nghiệp?

Tướng râu kẽm bầm mặt nhưng vẫn ngọt nhạt:

- Làm vệ sĩ của tôi, anh là nhân viên công lực của quốc gia, danh giá đâu kém cạnh gì ai? Là quí anh tôi mới bảo thế, chứ nếu cần vệ sĩ tôi đâu thiếu người giỏi.

Đại Cathay vẫn ngổ ngáo:

- Dạ, xin lỗi, tôi không hầu thiếu tướng được…

Sau Nguyễn Cao Kỳ đến lượt tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc Nha cảnh sát Đô Thành. Tuyên bố “Đặt giang hồ ra ngoài vòng pháp luật”, tướng Sáu Lèo cho mở “Trung tâm bài trừ du đãng” đặt ở bên kia cầu Bình Triệu (quận 9) và lập “Biệt đội hình cảnh” nhằm tiêu diệt giang hồ do đại úy Trần Kim Chi làm đội trưởng. Theo lệnh Sáu Lèo, “Biệt đội hình cảnh” được bắn bỏ bất cứ tên giang hồ nào trên đường phố nếu chúng gây án và chống lại cảnh sát. Sau một thời gian hoạt động, “Biệt đội hình cảnh” vẫn chỉ tóm được một số tên du đãng “tép riu”, tướng Sáu Lèo bèn quay sang tìm cách mua chuộc Đại Cathay hòng “dĩ độc trị độc”. Đính thân Mã Sâm Nhơn, phụ tá của tướng Sáu Lèo đến gặp, đưa giấy mời của ngài chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan cho Đại Cathay. Cùng một đàn em, Đại Cathay có mặt y hẹn. Nguyễn Ngọc Loan ra giá:

- Tôi sẽ nhận anh vào chức vụ đại úy Phó ty cảnh sát quận 7. Anh được toàn quyền hành động, nhưng phải giúp tôi tiêu diệt hết đám lưu manh du đãng.

Đại Cathay từ chối:

- Tôi xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được? Nếu tôi nhận lời, du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt.

Nguyễn Ngọc Loan hạ giá:

- Anh không muốn nhận, tôi không ép, nhưng anh phải giải tán băng nhóm, không được lộng hành.

Đại Cathay đồng ý với điều kiện để cho y và đàn em toàn quyền làm ăn và cai quản khu cảng Sài Gòn, Khánh Hội, khu vực chợ vựa Cầu Muối, và hai bên bờ Kinh Tẻ. Thấy tên giang hồ cứng đầu, Nguyễn Ngọc Loan nổi đóa:

- Tôi lệnh cho anh giải tán hết, nếu không giang hồ, du đãng sẽ không còn đất sống!

Đại Cathay trả lời:

- Giang hồ không có vua, tôi đâu có ra lệnh cho các băng khác được.
Cuộc mặc cả kết thúc. Tiếng tăm Đại Cathay nổi như cồn trong giới giang hồ vì “dám vuốt râu kẽm” tướng Nguyễn Cao Kỳ và từ chối chức tước của Nguyễn Ngọc Loan ban cho. Đại Cathay càng vênh váo hơn. Nhưng chính bằng sự nổi tiếng ấy, Đại Cathay đã tự ký cho mình bản án tử hình.

Quá ngạo mạn, đang đang là giai đoạn cực thịnh của băng Cathay, Đại vẫn tiếp tục lộng hành. Không chi ngổ ngáo với tướng Sáu Lèo trong công việc, Đại Cathay còn công khai qua mặt và thách thức viên tướng này trong cả khoản ăn chơi, chẳng thèm lưu tâm gì đến sức nặng của cái lon chuẩn tướng và trọng trách “Chief” ngành cảnh sát mà Nguyễn Ngọc Loan đang nắm giữ.

Vào thời điểm đó, Sài Gòn ngập tràn trong không khí sống gấp và hưởng thụ, không cần biết đến tương lai. Một trong những mốt thời thường của các nhà buôn giàu có, các sĩ quan cộng hoà hào hoa, các công tử con nhà gia thế là công khai có nhân tình nhân ngãi hoặc cặp bồ với , nghệ sĩ trẻ đẹp. Đường đường là một vị tướng, Nguyễn Ngọc Loan đâu thèm để mắt tới các cô , ca sĩ phòng trà bình thường. Người ta thường thấy “ông tướng độc nhỡn” thường xuyên có mặt tại vũ trường Olympic trên đường Lê Lợi vào mỗi tối thứ 7. Tại đó, Nguyễn Ngọc Loan là chủ nhân của một vưu vật: ca sĩ Phương Dung nổi tiếng xinh đẹp và quý phái, người được mệnh danh là “con nhạn trắng Gò Công”, lấy vũ trường này làm đất biểu diễn. Mỗi lần đến thăm tình nhân, viên tướng xách theo cả chục tên vệ sĩ thuộc hàng thiện xạ, cũng nổi tiếng ngổ ngáo và chịu chơi, phóng xe Jeep bạt mạng với những đường cua cong lề bạt phố, đạp phanh cháy cả mặt đường.

Olympic cũng là chốn mà băng Đại Cathay thường xuyên lui tới. Hơn thế nữa, Thủy Tàu – tài pán vũ trường Olympic còn là một “mối” rất khoái Đại Cathay. Khác với viên tướng và đám lâu la bụi bặm, Đại Cathay thường lướt trên một chiếc Chevrolet có gắn điều hoà không khí, choáng lộn và êm ru nhẹ nhàng bơi đến cửa vũ trường. Loại xe đó, cả Sài Gòn chỉ có dăm ba chiếc.

So với đám vệ sĩ với lương lính còm cõi, Đại và băng Cathay luôn sẵn sàng “xài lớn”, rút tiền chẳng bao giờ đếm, người ngợm củng “kẻng” hơn, dĩ nhiên là được các em ở đây săn đón nồng nhiệt hơn nhiều. Bị “gác kèo”, đám vệ sĩ tức lắm, nhiều lần hậm hực, nhưng Đại Cathay và đám đàn em vẵn phớt ănglê, coi như “chuyện tép”.

Một tối, Đại và khoảng chục đàn em, trong đó có Lâm Chín ngón và Lành Cầu Muối – một tay cảnh sát ăn “rơ” với giang hồ kéo đến Olympic từ khá sớm. Thấy các đàn anh, đám ríu rít túa ra vây lấy bá cổ níu tay, chí choé cả gian bar trên lầu 2. Cả đám “vui vẻ” mới chừng nửa tiếng, cánh cửa lại xịch mở. Đám vệ sĩ của Sáu Lèo – không có chủ tướng đi cùng – xộc vào, cũng cỡ chục tên. Ngồi chờ cả 15 phút, đám vệ sĩ vẫn không thấy cô nào đến săn sóc. Trong khi đó, ở mấy bàn bên vẵn liên tục vọng sang tiếng cấu véo giỡn hớt rúc rich của băng Cathay với đám như thể trêu ngươi. Nổi cáu, cả đám vệ sĩ đưa mắt nhìn nhau và đứng bật dậy. Thiếu úy Hải, một tay nổi tiếng thiện xạ tiến sang, đứng đối diện với Hải Súng của băng Cathay, hất hàm:

- Vui vẻ quá hả? Sang bớt mấy em chứ, để bên này ngồi không, coi sao đặng?”

Vẫn không buông vai cô “đào nhí”, Hải Súng hất mặt:

- Đâu có được, đến trước có phần trước, trâu chậm phải uống nước *c, trách gì?

Viên thiếu úy gườm gườm, đưa tay vào bụng đặt lên báng súng:

- Đừng chơi quê tụi này chớ!

- Thì đã sao? – Hải Súng hếch mặt lên. Lúc này băng Cathay và đám cũng đã ngưng đùa giỡn, ngẩng lên thủ thế. Được khích lệ, Hải Súng tiếp: - Thịt người tanh không ăn được, đừng doạ nhau, tụi này không thích!

Bị khiêu khích, mắt thiếu úy Hải vằn lên. Hắn xấn xổ chụp lấy tay cô đào nhí kéo về phía mình, tuyên bố:

- Không thích cũng bắt!

Sợ hãi, cô thét lên. Không nói không rằng, Hải Súng vớ ngay chai Black and White trên bàn giáng thẳng xuống đầu đối thủ. Phản xạ nhanh, thiếu úy Hải vội buông cô nhảy vọt sang một bên và móc súng. Hai băng xông vào nhau. Bàn ghế ly tách bay tứ tán. Đột nhiên, Đại Cathay hét lên:

- Tụi nó chơi súng, rút, tụi bây.

Pằng! Pằng! Pằng! Ầm

Đại chưa dứt câu, dàn đèn phe lê đã rơi ụp xuống sàn, vỡ tung toé, đồng thời một viên đạn cũng nhằm đầu gối Đại găm tới, xô y gục xuống. Hải Súng vội xô tới xốc Đại lên bỏ chạy. Trong băng chỉ có Hải và Lâm Chín ngón giắt súng theo. Cả hai cũng vội móc ra bắn loạn xạ. Lâm Chín ngón gào lên:

- Anh em rút đi, để tôi lo!
Lúc này, đám , bồi bàn đã hoảng hồn bỏ chạy hết. Thủy Tàu khá nhanh trí, vội chạy bổ vào trong sập cầu dao điện. Bóng tối chụp lấy vũ trường đã hỗ trợ cho băng Cathay bỏ chạy. Bị thương, Đại Cathay khó khăn lắm mới được Hải Súng và Ngân Pôcon dịu được xuống lầu và kéo thẳng ra đường. Lúc này, Lành Cầu Muối cũng vừa vặn trờ chiếc Mustang tới, hốt cả bọn lên xe chạy thẳng. Lâm Chín ngón chạy sau cùng. Sau khi nhả hết đạn, y cũng vội đu cửa số phóng xuống được Tạ Thu Thâu cắm đầu chạy luôn một mạch. Sau lưng, đám vệ sĩ Sáu Lèo vẫn nã đạn theo chíu chíu.
Không thu phục được Đại Cathay, tướng Sáu Lèo đã ra lệnh cho “Biệt đội hình cảnh” bắt bỏ tù hàng loạt đàn em nhằm cô lập hắn. Núng thế, Đại Cathay đành tìm cách hoãn binh. Một buổi tối, hắn mua nguyên nhà hàng Paramouth mời đại úy Trần Kim Chi đến dự tiệc. Khi rượu đã chếnh choáng, Đại Cathay mới ngỏ ý:

- Nếu đại úy chịu tha một số anh em của tôi vừa bị bắt, chúng tôi sẽ không quên ơn anh…

Viên đội trưởng “Biệt đội hình cảnh” cũng thuộc loại ngang tàng không kém gì Đại Cathay, từ chối thẳng thừng:

- Ăn nhậu là ăn nhậu, bắt là bắt. Nếu anh mời tôi đến đây là để mặc cả thì coi như tàn tiệc, tôi xin kiếu.

Nếu là trước đó mười hôm, máu côn đồ của Đại Cathay sẽ nổi lên ngay. Nhưng đang yếu thế nên Đại vẫn nhũn nhặn:

- Ồ không không. Nếu đại úy không ưng thuận thì thôi. Còn hôm nay mời đại úy đến là để anh em vui vẻ. Mời đại úy cứ tự nhiên, đêm nay toàn bộ nhà hàng này là chỉ để phục vụ chúng ta, đại úy đừng bận tâm làm gì.

Viên đại úy không vui vẻ được lâu, cũng chẳng còn thời gian để bận tâm lâu hơn nơi cõi thế. Sau buổi tiệc chỉ nửa tháng, một chiếc xe “be” chở gỗ không rõ xuất xứ đã “bò” ngang qua chiếc xe hơi CV2 của Trần Kim Chi khi viên đại úy này đang đi công vụ trên xa lộ. Đại úy Chi và viên lái xe chết tại chỗ, chiếc xe gây tai nạn bỏ chạy mất tăm, “không nhận dạng được biển số”. Giới giang hồ đều cho rằng chính Đại Cathay đã sát hại Trần Kim Chi.

Cái chết của Trần Kim Chi đã đánh dấu chấm than cuối cùng cho cuộc đời du đãng của Đại Cathay. Tháng 8/1966, với tội danh “Du đãng đặc biệt”, Đại Cathay lại bị tóm cổ. Cùng với một loạt du đãng khác, ngày 28/11/1966, Đại Cathay bị tống lên máy bay vận tải C47 đưa ra giam giữ tại đảo Phú Quốc.

Gọi là “Trung tâm hướng nghiệp” nhưng chính xác, đây là nơi lưu đày những tên lưu manh ngoại hạng dày thành tích bất hảo nhưng không có chứng cớ để bắt quả tang, do chính Nguyễn Ngọc Loan đề nghị thành lập nhằm “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn luật pháp”.
Trại là những dãy nhà dã chiến thấp lè tè nằm trong rào kẽm gai bịt bùng đặt cạnh sân bay Phú Quốc ngay tại thị trấn Dương Đông. Gọi là “hướng nghiệp” cho oai, kỳ thực đám tù suốt ngày chỉ ngồi ngáp vặt, đánh mạt chược mà không hẹn ngày về chứ chẳng có việc gì để làm. Một hôm, đang đánh mạt chược, Đại Cathay bảo:

- Gọi “hướng nghiệp” nghe chán thấy mẹ, tụi mình đặt lại tên cho nó đi.

Cả bọn đồng ý. Bác sĩ Nghiệp, một tên du đãng có học đề xuất:

- Bốc đại một con mạt chược, trúng con gì, đặt tên đó.

Đại Cathay quơ được con Cửu Sừng, vậy là “Trung tâm hướng nghiệp Phú Quốc” nghiễm nhiên trở thành “Trại Cửu Sừng”.

Không giống như dự định của tướng Sáu Lèo và sảnh sát ngụy, Trại “Cửu Sừng" chẳng những không “hướng” được chút “nghiệp” nào cho đám đầu trâu mặt ngựa mà ngược lại hoàn toàn. Toàn bộ đám du đãng bị bắt vào đây như Đại Cathay, Hải Súng, Hoà áo thun, Lâm Chín ngón, Bảy Si, Hỏi Phoòng Kin, Thanh tưa, Quẩy Thầu Hao... sau này đều là những tên giang hồ cộm cán nhất của Sài Gòn – Chợ Lớn, càng ngày càng hung hãn hơn. “Trại Cửu Sừng” như một con dấu chất lượng để đánh giá giang hồ. Tên nào từng ngồi ở “Trại Cửu Sừng” sau này đểu trở thành đàn anh, được quyền ăn trên ngồi trốc trên chốn giang hồ.

Người vợ cuối cùng, cũng là cuộc tình sâu nặng nhất của Đại Cathay là cô Nhân, con gái chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng nằm trên đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) đối diện với vũ trường Olympic. Khi Đại và cả đám đàn em bị tống ra đảo Phú Quốc, Nhân ở lại Sài Gòn, biết chắc rằng loại tù không án như chồng mình e khó có ngày về. Cô cùng anh trai vung tiền ra tìm cách cứu Đại Cathay.

Đầu tháng 1/1967, Nhân có mặt trong đoàn thân nhân ra thăm nuôi đám du đãng bị nhốt ở Trại Cửu Sừng. Gặp Đại Cathay cô báo cho chồng biết đã lo xong việc tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục. Đám lính gác sẽ làm ngơ cho Đại Cathay và một số đàn em trốn ra khỏi trại. Một xuồng máy chờ sẵn sẽ đưa đám tù ra khơi, có tàu hải quân do Nhân bố trí sẵn rước về đất liền. Để mua chuộc đám lính gác, Nhân đưa cho Đại một chiếc áo bluson và dặn dò kỹ lưỡng. Nhìn bề ngoài, nó chỉ là một chiếc áo lạnh rẻ tiền, sau lưng có một con rồng ấp quanh bản đồ Việt Nam thêu hai màu, nửa miền Bắc màu đỏ, nửa miền Nam màu vàng. Loại áo này bán nhan nhản dọc các tiệm đường Lê Thánh Tông, trong chợ Dân Sinh… chủ yếu để đám lính Mỹ sắp hồi hương mua về làm kỉ niệm.
Khi chuyển áo cho Đại Cathay, tên lính canh của trại hướng nghiệp Phú Quốc thấy nó nặng hàng ký nên đâm nghi ngờ. Lần theo lưng áo hắn sờ thấy giữa hai lần vải có hàng chục miếng kim loại mỏng được khâu đầy trong đó. Đoán là vàng, tên lính canh định lôi ra khám xét. Lập tức cái liếc xéo mắt của tên sĩ quan đứng cạnh đã ngăn hắn lại. Tên lính đành trả lại áo cho Đại Cathay mang về phòng.

Theo lời đồn đại của giới giang hồ thì khi về phòng, Đại Cathay đã xé chiếc áo lấy ra đúng 62 lá vàng loại 1 lượng khâu trong đó. Với số vàng này, Đại đã mua chuộc đám cai ngục để chúng bố trí cho lính gác làm ngơ khi Đại bỏ trốn.

Đi theo Đại Cathay có khoảng một chục đàn em trong đó có Xì kíp, Lắm Mổ bụng, Hùng Mỏ chuột, Hải Súng và Lâm Chín ngón… Đến phút cuối, Đại Cathay theo lời Hải Súng tham mưu, quyết định để Lâm Chín ngón – gã đệ tử thân nhất - ở lại. Đại nói với cả đám:

- Thằng Lâm lóc choc, dễ làm bể chuyện lắm. Vả lại, chuyến đi này lành ít dữ nhiều, nó còn trẻ, tội lắm. Chi bằng để nó lại, mình thoát rồi lo cho nó về sau an toàn hơn.

Trước giờ khới sự, Đại Cathay gọi Lâm Chín ngón đến và bảo:

- Mày phải bỏ xì ke đi, hại lắm. Tao chích cho mày một lần cuối cùng, sau đó là phải chừa hẳn, nếu không đừng trách.

Đại đã tự tay chích cho Lâm một mũi gấp đôi đô bình thường do chính tay Hải Súng pha chế, có độn thêm một ít tân dược để tăng nồng độ. Phê thuốc, Lâm Chín ngón quay ra ngủ say như chết. 12 giờ đêm ngày 7/1/1967, Đại Cathay dẫn đàn em đào thoát ra ngoài.

Theo sự phân công của Đại Cathay, đám tù trốn trại chia làm hai tốp. Tốp thứ nhất gồm năm tên đi trước để nghi binh. Tốp thứ hai, có Đại Cathay và Hải Súng chạy theo hướng bờ biển. Bất ngờ, khi cả hai tốp vừa vọt ra khỏi vòng rào thì phía trại báo động inh ỏi. Tốp thứ nhất, gồm Xì kíp, Hùng Mỏ chuột,.. bị tóm cổ lại ngay. Đại Cathay và Hải Súng vội đổi kế hoạch, chạy lên phía Bắc đảo, lần vào khu núi tượng, nơi có Quân giải phóng hoạt động. Đến đây, không ai còn tận mắt gặp lại Đại Cathay và Hải Súng. Và hàng loạt giai thoại giải thích sự mất tích của hai tên du đãng đầu sỏ bắt đầu xuất hiện.

Theo hồ sơ về cái chết của hai tên du đãng mà chúng tôi có được: Biết không trị nổi Đại Cathay, lại nhiều lần bị tên đãng làm bẽ mặt, chuẩn tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan rất hận, tìm cách loại trừ vĩnh viễn Đại Cathay. Khi biết cô Nhân – vợ Đại – đang tìm cách lo lót tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục… Nguyễn Ngọc Loan đã chỉ đạo cứ để cho Đại Cathay thực hiện kế hoạch. Đến giờ chót, theo lệnh Loan, toàn bộ toán lính gác của trại hướng nghiệp bất ngờ bị đổi. Toán lính gác mới ráo riết truy kích đám tép riu, còn Đại và Hải, chúng cố ý để cho đào thoát vào núi Tượng. Sau đó, Loan cho một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được trực thăng chở từ Sài Gòn ra truy kích Đại và Hải, bắn hạ chúng. Khi đi, toán biệt kích dù phải thay quần áo bà ba, đội mũ tai bèo, mang dép râu và sử dụng súng AK47, giả trang làm Quân giải phóng để đổ vấy cho việc giết Đại Cathay và Hải Súng cho phía Cách Mạng. Diệt xong, toán biệt kích dù phải đắp mộ, đề bia tử tế để dễ bề nhận diện và gây dư luận. Chính thiếu úy Trần Tử Thanh sau này đã từng huênh hoang khoe với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay y đã nổ súng hạ gục Đại Cathay. Khá nhiều người cũng biết rõ ngọn nguồn sự việc, song trước khi ngụy quyền sụp đổ, không một tờ báo nào dám viết về âm mưu hại địch thủ của tướng Nguyễn Ngọc Loan. Vì vậy, lời đồn đại, đoán non đoán già vẫn cứ loang ra mãi, đắp thêm chất huyền thoại vào cuộc đời và cái chết của Đại Cathay – tên du đãng ngoại hạng.

pe_chu0t_c0ng 09:10 07/05/2011
0
115 curse.gif cho em đặt 1 phòng đọc cái này xong em zo mỗ mắt blur.gif blur.gif crisp.gif crisp.gif crisp.gif crisp.gif crisp.gif crisp.gif crisp.gif crisp.gif
yomost_love 09:11 07/05/2011
0
Năm Cam
10808750-Nam-Cam-cuoiZ.jpg080901160619-691-683.jpg
Sài Gòn những năm đầu thập kỷ 50,trong ký ức đã bạc mầu thời gian của Năm Cam, là một vùng đất thưa người, hoang vắng và ngoài kỷ niệm tuổi thơ, chẳng còn gì gọi là hấp dẫn.

Thuở ấy,con kinh chạy dài từ đầu Cầu Quay đến tận Chợ Lớn còn sạch lắm. Nước lên xuống theo thủy triều và đủ để cho lũ trẻ con ở truồng nhồng nhỗng lặn hụp suốt ngày chơi trò thủy chiến.

Quận 4, nơi sinh ra và lớn lên của Năm Cam-lúc ấy là mảnh ruộng đồng đầy ao vũng, sình lầy và lắm muỗi mòng.Còn nhớ, cho đến tận những năm đầu thế kỷ, nơi này còn có cả lũ cá sấu hoa cà dữ tợn từ Rừng Sác-Cần Giờ tìm về gây họa.

Những khu xóm lụp xụp tối tăm,ban đêm được soi bằng những bóng đèn dầu hột vịt hoặc tệ hơn, bằng ánh trăng huyền hoặc.Năm Cam đã trưởng thành từ nơi khốn khó,

chẳng trách y có một tham vọng đổi đời bất chấp mọi thủ đoạn để dành thắng lợi.

Cha của Năm Cam tên thật là Trương Văn Bưởi-còn được gọi là ông Mừơi Củi, đó chính là lý do khi có ai đó nói đùa với y: Chanh,Tắc(quất)gì cũng được, nhưng nói đến Bưởi và Quýt thì không xong!Đã rời bỏ quê hương Quảng Nam để vào đất Sài Gòn sinh sống từ những năm 30. Nghe đâu ngoài Tư Xẩm, Năm Cam, hai ông bà Mười Củi đã ngậm ngùi bỏ mất hai đứa con trai ở quê cũ vì không có tiền mua thuốc trị bệnh. Đó cũng chính là nguyên nhân hai vợ chồng quyết tâm ra đi không chút quyến luyến và gần như quên đi rằng họ từng có một quê hương nào đó xa vời vợi tận miền Trung. Khát vọng đô(i đời thoát nghèo đã buộc họ ra đi.

Năm Cam đã ngỡ rằng ngoài cha mẹvà chị Tư Xẩm, chẳng còn ai để nó gọi bà con. Thế nhưng, vào một buổi chiều tối, cha nó dắt hai chị em ăn mặc tươm tất, tương đối khá hơn cái gọi vựa củi của ông già Mười nhiều. Năm Cam và Tư Xẩm được giới thiệu với người đàn bà chủ nhà, và được đeo tang ông chồng của bà chủ nhà vừa chết. Từ đó, trong trí óc non nớt của Năm Cam đã ghi nhận được rằng: ở ngôi nhà tại chợ Xóm Chiếu này, cha nó có một người em gái tên là Trương Thị Quýt. Chồng của cô Quýt vừa chết, Năm Cam và Tư Xẩm phải gọi là dượng- Dượng Thừa, một ông dượng mơ hồ xa lạ dù hoàn toàn có thật.

Nhưng cũng mối quan hệ bà con duy nhất này đã dạy cho Năm Cam một bài học, quan trọng và đầy chua xót khi nó đã bắt đầu lớn khôn đủ nhận thức về một thế giới phức tạp đầy dẫy chuyện tồi tệ ở chung quanh. Một thế giới quan khắc nghiệt đã định hình bởi bài học cay đắng ấy.

Ngày ông Mười Củi dắt hai đứa con đến đám tang của chồng em gái trờ về, ông bắt đầu ngã bệnh và các triệu chứng của căn bệnh lao phổi thời kỳ cuối cùng. Đó là kết quả của công việc lao động quá sức để nuôi vợ và hai con.

Được gần hai năm, ông Mười mất. Năm Cam còn nhớ, lúc cha chết, những chiếc xe của phòng thông tin chạy rông khắp ngõ phát ra rả trên loa: “ Nghe vẻ nghe ve, nghe vè Bảo Đại....”. Nhờ vậy sau này, một người bạn trí thức của Năm Cam có thể khẳng định được năm ông Mười qua đời là năm 1955, năm Ngô Đình Diệm chơi trò trưng cầu dân ý để phế truất Bảo Đại khỏi cương vị quốc trưởng và bắt đầu cho việc lập nền đệ nhứt cộng hòa.

Cô Quýt cũng được báo tin dữ bởi đích thân bà chị dâu nghèo khổ. Không khác gì một người khách vãng lai, cô Quýt ghé đến đám ma thắp một nén nhang, uống vội một ngụm trà, và dúi vào tay chị dâu một ít tiền phúng điếu trước khi bước lên Taxi ra về. Nét mặt cô như một tảng nước đá, không buồn cũng chẳng vui.

Lúc ấy, trí óc non nớt của Năm Cam chưa cho phép nó hiểu rằng người cô cư xử hết sức xấu với gia đình người anh, cô Quýt thậm chí không buồn có mặt khi hạ huyệt. Đối với cô đến thắp nhang ông anh đã là tốt lắm rồi.

Về sau khi chớm hiểu cuộc đời, Năm Cam đã hiểu được một điều rất đơn giản nhưng cũng là nổi ám ảnh suốt một đời của một gã giang hồ ít học: Phải giàu có dù bằng bất cứ cách nào: nếu nghèo khó- những điều đơn giản và dễ hiểu nhứt như tình thân bằng quyến thuộc, cũng đừng hòng!

Bài học càng rõ nét hơn khi bà Mười, vào một lúc quá bế tắc, đã dắt đứa con đến tìm con của cô Quýt nghe đâu rất khá giả.

Hai mẹ con cùng đi chân đất, đầu trần giữa một buổi trưa Sài Gòn đầy nắng và bụi, đến đứng tần ngần trước cửa hàng tạp hoá bề thế của Sang- đứa con trai đầu của Dưỡng Thừa và cô Quýt. Anh ta thờ ơ theo kiễu một con buôn.

- Xin lỗi, thực ra tôi cũng chẳng nhớ là có một người bà con nào, nếu có hẳn mẹ tôi nói cho chúng tôi biết rồi chứ!? Sang nói một cách lạnh lùng sau khi quan sát kỹ cách ăn mặc của hai mẹ con của người muốn nhận họ hàng với gã. Chắc mối quan hệ thân quyến này chẳng mang đến cho gã chút lợi lộc nào mà ngược lại, sẽ làm cho gã hao tốn không ít thời giờ và tiền bạc. Với bản chất một con buôn, Sang hiểu- tốt nhứt là gã nên vờ đi là xong! Theo thói đời, cách xử sự ấy hoàn toàn hợp lý...

Bà Mười tủi thân bật khóc rồi dắt con trai quay về. Cuộc sống nghèo khó rồi cứ thế tiếp diễn.

Mỗi buổi, bà lọ mọ mua về ít khoai, bắp bên vựa và luộc lên bán quẩn quanh trong xóm cho lũ trẻ con trong bụng ỏng eo. Năm Cam, dù mới chỉ mười hai, muời ba tuổi đầu cũng biết cùng bọn đồng trang lứa qua khu chợ cá Cầu Ông Lãnh, Cầu Muối để xoáy từng con cá, củ khoai về “cải thiện”. Đối với những cư dân làng Khánh Hội lúc bấy giờ, đó là lẽ tất nhiên, chẳng có gì là lạ. Sống tươm tất, đó mới là chuyện đáng lưu ý...

Và rồi Tư Xẩm có chồng. Chồng cô là một tay anh chị có chút ít tiếng tăm ở địa phương: Bảy Xi- tên thật của Nguyển Văn Xi.

Thực ra Bảy Xi không phải là người sống ở hẻm Chủ Phước. Cha mẹ của Bảy Xi có nhà cửa ở chợ Xóm Chiếu. Anh ta đến hẻm chôn nhau cắt rốn của chị em Năm Cam do mối quan hệ giang hồ với Mười Sở, một tay giang hồ có máu mặt ở khu Cống Lấp.
Như bất kỳ một cuộc tình nào khác xảy ra ở một vùng đất nghèo khổ, sình lầy này, Bảy Xi yêu và cưới Tư Xẩm thật gọn gàng chóng vánh khi cô gái chớm bước qua tuổi mười tám. Tình nghèo thuở ấy như vậy là phổ biến.

Chỉ là một mâm cơm tương đối gọi là, với khách mời duy nhất là Mười Sở, Bảy Xi ra mắt mẹ vợ và sống tạm ở căn nhà rách nát ấy một thời gian ngắn, trước khi đưa vợ về ở chung cùng cha mẹ mình.

Bảy Xi có một nghề để kiếm tiền mà hiện nay, cách kiếm tiền ấy không còn bắt gặp đâu trên toàn cõi Việt Nam nữa.

Không đẹp trai, chân lại bị khập khiễng, bù lại Bảy Xi có giọng ca khá mượt đủ làm xiêu đổ trái tim các cô gái lối xóm hằng đêm tụ tập ở phong ten nước. Bằng giọng ca trời phú, Bảy Xi mỗi ngày ôm một xấp bài tân cổ thời thượng đi khắp các hóc hẻm Sài Gòn để bán. Tất nhiên, muốn bán được một cách dễ dàng với số lượng nhiều, Bảy Xi phải ca thử, ca một cách hết sức ai oán mùi mẫn.

Theo chân anh rể, năm Cam cũng bắt đầu biết đến một Sài Gòn khác hẳn. Một Sài Gòn với những đường phố rộng thênh thang, nhà cửa tráng lệ, người mua bán tấp nập. Sài Gòn được biết đến sau này khác xa với Sài Gòn tuổi thơ của Năm Cam, có không ít trò lừa lọc và lối cư xử có không ít tàn nhẫn.

Tư Xẩm chuyển qua buôn bán nồi niêu xoong chảo bằng nhôm và bắt đầu chuẩn bị cho đứa con đầu lòng chào đời.

Bảy Xi đưa vợ về hẻm Sáu Căn ở Tôn Đản để thuê nhà.

Đúng với tên gọi của nó, hẻm 148 thời bấy giờ chỉ lèo tèo vài căn nhà nằm lọt thỏm giữa một bãi tha ma tiêu điều quạnh vắng.

Thọ, đứa con trai đầu của Bảy Xi và Tư Xẩm đã ra đời trong một căn nhà mái lá, vách phên tre vào năm 1957, năm mà Bảy Xi vẫn tất bật với công việc mua bán bài nhạc một cách lương thiện.

Mỗi chiều, Năm Cam lại theo lũ bạn ra cây cầu Ông Lãnh để tắm táp, vui đùa. Thuở ấy, bọn trẻ có thể nương theo dòng nước để lội từ Cầu Chông đến tận chợ Cầu Cống mới trèo lên con lộ nhựa trèo về nhà. Vài năm sau khi về ở hẻm Sáu Căn, Bảy Xi sinh tật có thêm vợ bé.

Tuy vậy, anh ta vẫn quan tâm đến Tư Xẩm và đứa con mới chập chững biết đi.

Hai mẹ con Năm Cam ở căn nhà phía ngoài, còn Tư Xẩm ở trong sâu. Khi hai vợ chồng cãi nhau kịch liệt về việc vợ bé- vợ mọn của Bảy Xi, Tư Xẩm dứt khoát: “ hoặc thôi vợ bé, hoặc đi luôn!”. Bảy Xi bỏ đi. Thế là Tư Xẩm bế luôn đứa con trai về với mẹ trong một căn nhà tồi tàn rách nát cách đấy không xa.

Rất nhiều năm sau này, Năm Cam cố nhớ lại vì sao cả Bảy Xi lẫn mẹ con Năm Cam lại tìm đến hẻm 148 Tôn Đản này để sinh cơ lập nghiệp. Phần Năm Cam và mẹ thì rõ rồi, họ phải theo vợ chồng Bảy Xi đi bất kỳ nơi đâu để tồn tại, dù tồn tại theo kiễu hết sức khổ cực. Còn Bảy Xi?

Hoá ra, người rủ Bảy Xi về hẻm Sáu Căn sinh sống là anh Bảy Huê Kỳ. Anh Bảy Huê Kỳ là một tay kỳ bẻo có tầm cở nhứt nhì Sài Gòn lúc bấy giờ, nhưng nghèo rớt mồng tơi. Có tay nghề giỏi nhưng vẫn có thể chết đói nếu không biết liên kết và thiếu kế hoạch, Năm Cam đã nghiệm ra được như vậy ở tấm gương anh Bảy Huê Kỳ.

Để phụ giúp gia đình, Năm Cam theo bạn bè gia nhập đội ngũ những kẻ bán xà bông bột quanh chợ Bến Thành.

Mỗi bịch xà bông bán được chỉ đem đến mười xu lãi nhưng nếu mỗi ngày nếu chịu khó đi cho đến cặp chân mõi rũ rượi, Năm Cam cũng có thể mang về nhà được hơn chục đồng bạc.

Năm Cam đó được một người bạn thân mồ côi cha mẹ cũng làm nghề đi bán dạo xà bông như nó. Bé Tám ở chung nhà với anh chị nhưng cũng được giành cho một không gian riêng biệt ở phía sau và thường rủ thằng bạn quận 4 quí hóa về ngủ qua đêm trên chiếc ghế bố hẹp bốc mùi ngai ngái.

Tuy là một đứa trẻ con loắt choắt vì thiếu ăn và phải bươn chải nhưng Năm Cam đã thực sự trưởng thành theo cách nhìn của bọn giang hồ lưu manh từ năm 14 tuổi. Nó theo chân các ông anh trời ơi ở khu Cống Lấp để đáp xe buýt lên ngã ba Chú Ía, trong tay cầm chặt tờ giấy bạc hai mươi đồng!

Cô gái mặt bự phấn cười rũ ra khi nhìn thấy thằng trẻ con đang thập thò núp sau lưng gã anh chị mặt mũi cô hồn mình xâm chằng chịt!

- Nó à? Cô gái hỏi gã đàn anh của Năm Cam khi đã ngừng trận cười
Sau lần tìm hiểu đàn bà đầu tiên trong đời, Năm Cam trở nên dạn dĩ, nó sẵn sàng đi một mình khi thấy rủng rỉnh ít tiền trong túi. Tệ hại hơn, như những hạt cỏ dại khác mọc xô bồ ở mảnh đất phức tạp ở quận Tư, nó cũng tham gia hầu hết các trò đồi bại của bọn trẻ con quỉ quái. Nó cũng bơi dọc theo bờ kinh để rình rập những phụ nữ sơ hở trong lúc tắm táp vệ sinh và cũng chẳng từ cơ hội nào để thỏa mãn trí tưởng tượng hết sức phong phú về của nó.

Cho đến một ngày nọ...

Ơû chợ Bến Thành, nó và bé Tám có một bà chị nuôi rất xinh đẹp và tử tế. Nguyệt, tên cô gái-năm ấy 23 tuổi, sống bằng gánh trái cây và quen biết Năm Cam qua sự giới thiệu của bé Tám.

Chính cô cũng không ngờ thằng trẻ con láu lỉnh, khéo ăn nói và nhiệt tình phụ giúp cô mỗi khi dọn hàng, lại có thể nhìn cô với kiểu nhìn hết sức dung tục, đồi bại.

Hai chị em quấn quýt nhau những ngày mưa gío buôn bán ế ẩm. Công việc buôn bán xà bông của Năm Cam tỏ ra nhiều thời giờ rảnh hơn cô gái nên nó giúp đỡ cô khá nhiều.

Hôm ấy, trời đổ mưa to. Nhìn cơn mưa ngày lúc càng nặng hạt không có dấu hiệu gì sẽ chấm dứt. Nguyệt thở dài với đứa em nuôi:

- Kiểu này chắc dọn về luôn chớ buôn bán gì nữa?

Năm Cam hăng hái lao vào trong mưa để gọi xích lô và nó thoăn thoắt dọn hàng cho cô chị nuôi lên xe. Tất nhiên khi dọn xong, đầu tóc nó ướt đẫm.

- Thôi, lên xe về nhà chị...để ướt đầu cổ thế này bệnh chết! Cô nói.

Cô ngồi lên ghế, hàng và đỗi quang gánh đặt dưới chân. Năm Cam lay hoay chẳng biết phải ngồi vào đâu. Nguyệt phì cười, cô ngoắc tay:

- Leo lên đây, ngồi vào lòng chị nè ông tướng!

Nó mừng rỡ trèo lên xe ngồi lọt tỏm vào lòng cô chị nuôi xinh đẹp.

Nguyệt thoạt đầu cũng không nghĩ ngợi gì khi ôm thằng em nuôi trong lòng. Thế nhưng khi xe chuyển bánh, sự cọ xát giữa hai cơ thể khác giới khiến cô có chút bồi hồi. Tấm bạt che, đủ để những tư tưởng đồi bại phát sinh, và đủ để hai chị em không cùng huyết thống bớt đi sự xấu hổ cần thiết. Nguyệt bất giác thở dài rồi ghì xiết vòng tay ngang bụng thằng bé.... Nó cũng chẳng phải là trẻ con như ngoại hình loắt choắt dễ đánh lừa tâm lý phòng thủ của phụ nữ, nên cũng bắt đầu giở trò.

Nguyệt không còn tự chủ, cô nói nhỏ vào tai đứa em nuôi:

- Em có thương chị Nguyệt không?

Dĩ nhiên là Năm Cam gật đầu. Về đến nhà, cô đưa thằng em nuôi ra sau nhà tắm rữa rồi rúc vào phòng riêng trước cái nhìn không chút nghi ngại của gia đình.

Từ đó, Nguyệt luôn tranh thủ cơ hội để bày trò với Năm Cam.

Tất nhiên, sau đó ít lâu, Nguyệt có thai. Cô giấu biệt tác giả cái bào thai với gia đình vì làm sao thuyết phục được mọi người thân đồng ý với “ cuộc tình” trái khoáy của cô với đứa em nuôi mới 15 tuổi đầu!

Đứa con trai đầu tiên của Năm Cam ra đời trong hoàn cảnh như thế và mãi sau này, ngay cả với nó, Năm Cam cũng không bao giờ kể lại một cách cụ thể mối quan hệ của Nguyệt và y.

Nguyệt đặt tên cho đứa bé là Trương Văn Hùng và bế con giao lại cho Năm Cam. Cô không thể tiếp tục quan hệ với Năm Cam bởi áp lực của gia đình và một phần vì cô, vốn là một phụ nữ xinh đẹp hiếm có, làm sao có thể chấp nhận lấy một đứa trẻ con không mấy gì xuất sắc, điển trai. Chẳng qua đó cũng chỉ là nỗi đam mê nhất thời trót gây ra hậu quả mà thôi!

Cũng lại là chị Tư Xẩm, thương em trai nên phải è cổ gánh luôn trách nhiệm nuôi thằng con trai của Năm Cam. Chị đặt cho nó cái tên Hai ****, theo thông tục của các gia đình ít học để tránh bệnh tật, tai ương cho thằng bé.

Tuy nhiên, đối với bất kỳ ai, Hai **** không hề là con trai của Năm Cam và coi như Năm Cam chưa từng có vợ. Ai có thể tưởng tượng nổi một thằng nhóc loắt choắt mới 15 tuổi đầu như Năm Cam đã lên chức bố? Càng lớn, Trương Văn Hùng giống như Năm Cam như tạc...

Hẻm Sáu Căn có thêm một thành viên mới, nghe đâu rất có máu mặt.

Năm Cam nghe lũ bạn kháo nhau nên cũng quay về để xem “ ông Mười Côn Lôn là ai ?”

Nô Cao Giò, một thanh niên ở xóm cũng thuộc vào loại “ có tiếng nói” do đã có lần tù tội. Lúc bấy giờ, việc đi ở tù là ghê gớm lắm, trừ những ai đi làm quốc sự, ngoài ra-đều được nhìn với ánh mắt e dè sợ sệt.

Mười Côn Lôn được Nô Cao Giò đưa về xóm giới thiệu với bạn bè đồng trang lứa: “ Anh Mười đàn anh của tao!” .

Lời giới thiệu không cần dài dòng nhưng hết sức hiệu quả.

Năm Cam không cần biết nhiều, như thế đã quá đủ để nó và các bạn ngưỡng mộ Mười Côn Lôn lắm rồi.

Có một lần “ anh Mười” làm Năm Cam phải thất vọng.

Một rừng không thể hai cọp, huống hồ con cọp đến sau chưa có một thành tích nào khả dĩ thuyết phục các hảo hán địa phương.

Hẻm 122 nổi danh đã từ lâu về việc cung cấp hàng loạt anh chị cho giới giang hồ bến tàu, đâu thể chấp nhận một tay lạ hoắc nào đó đến xưng hùng xưng bá ở con đường Tôn Đản này?

Thế là một buổi chiều tối, hai anh em Được-Lót, xếp sòng hẻm 122 dắt một tốp em út cỡ vài chục mạng, mang theo dao bầu, mã tấu, gậy gộc, xuống thẳng hẻm 148 để tìm anh Mười Côn Lôn với mục đích thử lửa xem là vàng thật hay vàng dỏm!

Vừa bước trong nhà ra chưa tới đầu hẻm, Năm Cam đã lãnh luôn một gậy vào lưng! Khổ thân thằng bé, mới 14-15 tuổi, biết gì chuyện tranh bá đồ vương của các bậc đàn anh, nhưng vẫn bị đối phương xem là “ đàn em của Mười Côn Lôn” để nện với mục đích buộc Mười Côn Lôn phải lộ diện ứng chiến.

Tất nhiên Mười Côn Lôn không phải là thằng ngốc!

Diễu võ dương oai suốt cả giờ đồng hồ vẫn không thấy tướng địch xuất hiện, Được-Lót hạ lệnh thu quân.

Mãi đến lúc đó Năm Cam mới lóp ngóp chui lên từ mé ao cạn, vừa vào nhà tắm rửa giặt giũ vừa làu bàu trách “ ông Mười” tại sao không ra mặt để đối phương đừng “ khi dễ”!

Tuy nhiên, cũng qua sự việc trên-Năm Cam cũng rút ra được một bài học: đừng vì hai chữ anh hùng mà húc đầu vào đó! Khi cần, vẫn có thể chịu nhục mà lánh thân, miễn là bảo toàn được tánh mạng, danh tiếng vẫn còn lấy lại như thường!

Đầu năm 1962, mẹ Năm Cam qua đời sau một cơn bạo bệnh.

Năm Cam đã trở thành một kẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, cuộc đời của Năm Cam đã lật sang trang mới, cay đắng và khốc liệt hơn trước nhiều


haiphong203 09:15 07/05/2011
0
blur.gif blur.gif blur.gif toàn anh chị siêu nhân
Gửi trả lời dành cho thành viên
Từ khoá:
dung hà , năm cam , quản lý , hà nội , quan trọng , tp hcm , bắn sơn , làm ăn , cải tạo , sơn quản lý ,